Mạn Đà La (Mandala) Của Phật Pháp Tây Tạng

Những tin tức hay, lạ, vui, và hữu ích cho đời sống.
Xin đừng tranh luận về chính trị, tôn giáo, sắc tộc ...

Moderator: A Mít

Mạn Ðà La (Mandala) Của Phật Pháp Tây Tạng

Postby mithott » 03 Oct 2019

Image



Mạn đà la (Mandala) của Phật pháp Tây Tạng


Mạn đà la(mandala) xuất phát từ tiếng Phạn, có nghĩa là vòng tròn, trung tâm, thống nhất và toàn vẹn. Gốc của chữ “manda” là cơ bản tinh khiết và “la” là dung chứa. Như vậy ý nghĩa của hình mandala là hình vẽ có thể dung chứa được những gì linh thiêng nhất của cuộc sống.

Hình vẽ Mạn đà la rất phức tạp, mỗi hình đại diện cho một vị thần và những cấu hiệu xung quanh họ có những ý nghĩa đặc biệt mà chỉ có các vị thiền sư mới có thể lý giải được.


Hàng triệu hạt cát được công phu kết nối trên một nền bằng phẳng trong nhiều ngày để tạo nên bức tranh cát tuyệt đẹp, đấy là Mạn đà la, vòng tròn tôn giáo màu, tượng trưng cho vũ trụ linh thiêng, được dùng trong nghi lễ của các thiền sư Tây Tạng

Image


Nhiều thế kỷ, những hình vẽ Mạn đà la được tạo ra bằng cát màu do các nhà thiền sư Tây Tạng vẽ ra dùng trong nghi lễ thiền định bởi họ cho rằng, những vòng tròn này chứa đựng nguồn năng lượng tuyệt vời.

Image


Các tu sĩ bắt đầu công việc của mình bằng cách phác họa những vòng tròn trên nền gỗ, công việc này có thể mất cả ngày. Những ngày tiếp theo, nó sẽ được phủ lên những lớp cát nhuộm màu, được đổ ra bằng cách sử dụng những chiếc phễu truyền thống có tên là Chak-pur.

Image

Chiếc phiều Chak-pur này cho phép cát chảy ra theo dòng, mềm mại, như một chiếc bút lông, tô vẽ trên vòng tròn đã được phác họa.

Image

Công việc này rất tỉ mỉ, có thể mất nhiều ngày, nhưng đổi lại, khi hoàn thành, Mạn đà la là một tác phẩm nghệ thuật thực sự.

Image

Image

Image

Image


Khi hình vẽ được hoàn thành, nghi lễ phá vỡ Mạn đà la diễn ra sau đó không lâu trong một bầu không khí im lặng linh thiêng và thành khẩn. Những hạt cát trở về với sông lớn, nơi nó từ đó ra đi, như lời dạy của Đức Phật, cuộc đời vô thường, tất cả chỉ là tạm bợ trong cõi đời này.

Nguồn: Báo Mới
Last edited by mithott on 10 Apr 2020, edited 1 time in total.
mithott
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $18,194
Posts: 1615
Joined: 17 May 2011
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng mithott từ: Thuvang, Que Huong, simbaking

Re: Mạn Ðà La (Mandala) Của Phật Pháp Tây Tạng

Postby mithott » 03 Oct 2019


Tác dụng của cát Mạn đà la


Image
Hàng vạn hạt cát thiên được các vị sư Tây Tạng thổi thành Mạn Đà La


Tác dụng của cát Mạn đà la (Mandala)
Bạn được biết rằng sanh tử là việc quan trọng . Việc sanh về một cõi tịnh độ vô cùng tổt đẹp là điều mà ai ai cũng mong muốn . Nhờ sức gia trì của cát Mandala . Bạn có thể dễ dàng giúp người khác siêu sinh tịnh độ . Như của tôi là cát man đa la của Tara trắng , sẽ giúp người đó được siêu sinh tịnh độ Unikog của đức Tara .

Nghiệp chướng nhiều , bệnh tật , phiền não .... Trong kinh có nói nếu đặt cát Man đà là có thể tiêu trừ vô lượng nghiệp chướng sanh tử luân hồi . Chỉ cần đặt cát lên đỉnh đầu . Vì man da la là một đàn tràng , hiện thân của Thân khẩu ý của vô lượng phật đà . Vì vậy chúng có số lượng công đức đồ sộ như xá lợi Phật vầy

Trước khi một vị sư có thể được phép tham gia xây dựng một mạn-đà-la, người đó phải học trong một thời gian dài về nghệ thuật và triết học. Tất cả các sư Phật giáo ở các tự viện Tây Tạng đều được yêu cầu học về cách dựng các mạn-đà-la như là một phần của việc rèn luyện. Quá trình học có hai lớp bao gồm việc ghi nhớ các văn bản cho các tên, độ dài, và vị trí cửa các đường chuẩn dùng để xác định cấu trúc cơ bản của các mạn-đà-la cũng như là các kĩ thuật bằng tay để vẽ và rải dòng cát. Các văn bản này tuy vậy không miêu tả từng đường nét và cũng không chỉ rõ từng chi tiết của mỗi mạn-đà-la, mà đúng hơn nó được dùng như một ghi nhớ hướng dẫn để hoàn thành các dạng mạn-đà-la. Nội dung mạn-đà-la đặc biệt đều dựa vào các lời kinh. Việc thực hiện mạn-đà-la phải được thực tập lập đi lập lại để tạo dựng nó dưới sự hướng dẫn của các vị sư có kinh nghiệm. Trường hợp của đức Đạt-lai Lạt-ma, tại tự viện riêng Namgyal chu kì học này kéo dài trong 3 năm.

Tiến trình xây dựng mạn-đà-la sẽ đòi hỏi kiên trì làm việc trong nhiều ngày có khi nhiều tuần lễ. Theo truyền thống, có 4 sư làm việc chung nhau trên một mạn-đà-la. Mạn-đà-la được chia thành các góc tư với mỗi sư lo một góc. Trong thời gian của tiến trình, mỗi sư nhận được hỗ trợ để cung cấp đủ cát màu trong khi sư trọng trách tiếp tục làm việc trên các chi tiết đã được kẻ khung trên phần của mình.

Công việc phải phải được tiến hành cực kì cẩn thận và chú tâm. Khi tiến hành, các sư thực ra đang được truyền đạt các giảng huấn của Phật. Bởi vì mạn-đà-la chứa đựng các chỉ dạy của Phật để đạt tới giác ngộ, để thuần khiết hóa động cơ và để hoàn hảo hóa công việc của họ nhằm cho phép những người chiêm bái nó được hưởng tối đa phúc lợi

Trước tiên, các sư cúng dường mạn-đà-la thông qua việc đọc kinh, chú với nhạc lễ. Mạn-đà-la được xây dựng từ trung tâm mở rộng ra ngoài theo trình tự, bắt đầu từ 1 điểm ở tâm. Với việc đặt điểm ở tâm, mạn-đà-la được cúng dường cho một vị Hộ Phật riêng biệt. Vị Hộ Phật này thường được miêu tả trong một hình ảnh phía trên của tâm điểm, mặc dù vậy, một số mạn-đà-la chỉ đơn thuần có tính địa hình học.

Trong các giai đoạn đầu của công việc, các sư ngồi bên ngoài của bệ (hay khung) vẽ mạn-đà-la và luôn đối mặt với tâm của mạn-đà-la. Đối với các mạn-đà-la cở lớn, các sư sau đó sẽ phải đứng và cong người để rải cát màu.

Các đường kẻ được vẽ qua tâm điểm đến 4 góc tạo ra dạng thức tam giác vuông cân. Các đường này được dùng để kiến trúc một cung điện với 4 cổng. Mỗi cổng sẽ được trang hoàng với các chuông, vòng hoa, thú giữ cổng hay các vật biểu tượng khác. Hình dạng vuông mô tả theo kiến trúc là bốn mặt của cung điện hay của tự viện. gọi là Cung điện là vì nó là nơi ngụ của các Hộ Phật, gọi là tự viện vì nó bao gồm cốt lõi Phật.

Từ hình vuông bên trong, các sư dựng một dãy các đường tròn đồng tâm. Ở đây những người tham gia làm việc theo lối tuần tự, tất cả di chuyển quanh mạn-đà-la. Họ phải chờ cho đến khi mỗi phần chia được hoàn tất trước khi làm việc phần phía xa tâm hơn cùng nhau. Điều này bảo đảm cho sự cân bằng công việc không ai nhanh hơn ai.

Thường, cát màu được rải bởi một dụng cụ hình phểu (gần giống như các dụng cụ "bắt bông kem" trên các bánh bunche noel nhưng phểu bằng đồng thau và dài khoảng 30-50 cm). Trên phiểu có các khất nhỏ liền nhau, khi rải cát, người tham gia cà đi cà lại một thanh nhỏ lên các khất này tạo sự rung động làm cho dòng cát chảy ra được đều đặn và không bi tắc ách.

Ở trung tâm đặt (vẽ cát) một vị Hộ Phật mà từ đó mạn-đà-la được định danh. Thường thì vị Hộ Phật trung tâm này là một trong các dạng:

* Các Hộ Phật bình an: Một Hộ Phật bình an làm biểu tượng cho tiếp cận tinh thần và tồn tại riêng của mạn-đà-la. Chẳng hạn như hình ảnh của Bồ tát Quán thế âm biểu trưng cho lòng từ bi ở trung tâm của việc tập trung về thể nghiệm tinh thần, trong khi hình ảnh của Bồ tát Văn Thù Sư Lợi và của Kim cương thần (vị nữ giới tương ứng tinh thần) thì nhấn mạnh cho sự cần thiết của dũng khí và sức mạnh trong hành trình cho trí bát nhã thiên liêng.
* Các Hộ Phật dữ tợn: Nói lên sự đấu tranh dữ dội để vượt qua các trạng thái tâm lý xa lạ của một người. Họ nhấn mạnh các đau khổ nội tâm mà làm cho thân, khẩu, ý của chúng ta bị tối tăm và do đó cản ngăn thành tựu mục tiêu của Phật tử là để giác ngộ hoàn toàn. Theo truyền thống thì các Hộ Phật dữ tợn được hiểu là các khía cạnh của các nguyên lý nhân từ.
* Hình ảnh tính dục: nói lên tiến trình dung hợp nằm bên trong trái tim của mạn-đà-la. Hai thành tố đực và cái không có ý nghĩa gì ngoài ý nghĩa tượng trưng cho vô hạn các cặp đối kháng (chẳng hạn yêu và ghét, tốt và xấu, ...) khi mà một người kinh nghiệm trong sự tồn tại thế tục. Hình ảnh tính dục cũng có thể được hiểu như là ẩn dụ cho giác ngộ với các phẩm chất của sự vui sướng, mãn nguyện, thống nhất và hoàn tất.

Sau khi hoàn tất, các sư dâng hiến công đức cho lợi ích của tha nhân qua các lễ cầu nguyện.

Lý do có Lễ Xóa Mạn Đà La được chư Tăng giải thích là để nêu lên ý nghĩa vô thường, một pháp ấn mà Đức Phật đã dạy, rằng ngay tới một tác phẩm tuyệt đẹp như Mạn Đà La Tara cũng rồi phải theo định luật có sanh thì có diệt, có hợp thì có tan, và đã thành tựu là sẽ có hủy hoại. Và vì đời sống vô thường như thế, cho nên tất cả Phật Tử đều phải chiêm nghiệm ý nghĩa vô thường để khẩn cấp tu học, nhằm đạt cứu cánh Niết Bàn.


Trong truyền thống Mật Giáo Tây Tạng thì Mạn Đà La có thể được tạo bằng nhiều cách như sau:

1-Bằng bơ hay bột
2-Bằng gỗ
3-Bằng cát
4-Bằng họa
5-Bằng các loại đá quý vàng bạc

Mạn Đà La Cát là dùng cát loại cát nhuyễn nhiều màu sắc để tạo thành.

Thường thì Mạn Đà La Cát chỉ được lưu giữ trong thời gian làm lể Quán Đảnh hay là các Lễ Cúng Dường Đặc Biệt rồi sau đó thì sẽ xóa đi.

Chỉ có các trường hợp đặc biệt do sự cho phép của Đức Đạt Lai Lạt Ma thì các Mạn Đà La Cát mới được lưu giữ lại sau buổi lễ.

Mạn Đà La Cát là biểu trưng cho cõi Tịnh Độ của một vị Bổn Tôn của một Pháp Quán Đảnh.

5 phương của Mạn Đà là là tượng trưng cho Ngũ Trí Như Lai Phật. Trong Mạn Đà La còn có các hình tượng như là ấn, pháp khí, chủng tự của mỗi Đức Phật.

Mạn Đà La Cát là một đồ hình 3 chiều không gian cần phải rất nhiều thời gian mới có thể hoàn thành.

Những đồ hình Mạn Đà La Cát thường thấy đó chỉ là một phần của một Mạn Đà La hoàn tất.

Có các Mạn Đà La cần phải 49 ngày mới hoàn thành bởi vì cứ mỗi 7 ngày thì chư tăng hoàn thành một phần và làm lễ chú nguyện gia trì.

Mạn Đà La như là một thế giới hải mà mỗi một hạt cát là một hệ thống thế giới. Mạn Đà La tượng trưng cho lý Hoa Nghiêm Pháp Giới Trùng Trùng Duyên Khởi Vô Tận.

Lễ Xóa Mạn Đà La cũng là tượng trưng cho Lý Tánh Không Duyên Khởi đó là các Pháp Không Có Tự Tánh Đều Do Duyên Biến Hiện.

Sau khi hoàn mãn một buỗi lễ thì cát Mạn Đà La được phân chia cho Phật Tử và một phần đổ xuống biển hay sông để chú nguyện cho các Long Vương.

Cát Mạn Đà La dùng để sử dụng trong các trường hợp sau đây

1-Bị Bịnh Nặng mà hành hạ dở sống dở chết
2-Lúc sắp tắt thở
3-Lúc vừa chết
4-Lúc Liệm
5-Lúc Chôn

Dùng cát Mạn Đà La để trên đảnh đầu người của người bịnh rồi chú nguyện thì nếu người đó nghiệp nặng hành hạ dở sống dở chết thì sẽ được :

1-Là được chết nhẹ nhàng và được Vãng Sanh.
2-Hết Bịnh

Dùng cát Mạn Đà La để trên đảnh đầu người

1-Lúc sắp tắt thở
2-Lúc vừa chết
3-Lúc Liệm
4-Lúc Chôn

Là giúp người đó không bị đọa xuống ba đường ác và được Vãng Sanh.

Tại sao phải để cát Mạn Đà La trên đảnh đầu mà không để nơi khác trên thân mình ?.

Lý do là vì khi sắp chết hay là vừa tắt thở thì Thần Thức sẽ theo Nghiệp của mình đã tạo lúc trước mà xuất ra.

1-Đảnh Sanh Cõi Phật
2-Trán Sanh Cõi Trời, (A Tu La, Rồng cũng thuộc về Chư Thiên nhưng mà có lòng sân nặng hơn chư thiên)
3-Ngực Sanh Cõi Người
4-Bụng Sanh Ngã Quỷ
5-Gối Sanh Súc Sanh
6-Bàn Chân Sanh Địa Ngục

Dùng cát Mạn Đà La để trên rải trên xương cốt của người thú thì khiến người thú xả bỏ ác đạo được Vãng Sanh.

Khi dùng cát mandala bạn nhớ trì chú 108 biến Om mani padme hum

Lobsang Nyma

Nguồn: Chùa Phúc Lương
mithott
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $18,194
Posts: 1615
Joined: 17 May 2011
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng mithott từ: Thuvang

Re: Mạn Ðà La (Mandala) Của Phật Pháp Tây Tạng

Postby mithott » 03 Oct 2019


Chất liệu dùng làm mạn-đà-la, hình tượng, màu sắc và ý nghĩa

Image


Chất liệu dùng làm mạn-đà-la
Các mạn-đà-la có thể được làm từ các loại đá quý, hoa, gạo khô, đá màu hay cát màu. Trường hợp cát, thường được tạo ra từ việc nghiền các viên đá quý và được xem như là vật liệu có hiệu lực nhất bởi vì có các chất liệu quý đòi hỏi kĩ năng rất khéo léo để tạo nên các mạn-đà-la có các chi tiết tuyệt hảo. Do mỗi hạt cát được nạp bởi các phúc lành của tiến trình lễ nên toàn thể mạn-đà-la cát biểu hiện một kho chứa khổng lồ của năng lực tinh thần.

Các loại hình tượng của mạn-đà-la cát thông thường

Image


Dạng thông thường nhất là một cung điện vuông với 4 ngỏ vào và các vành tròn đồng tâm biểu thị cho hoa sen mà trên đó mandala được đặt lên và các tia sáng giải thoát từ mandala. các mandala có mức phức tạp rất khác nhau. Nó có thể đơn giản như một vòng tròn hay một tam giác với chỉ một thánh hộ trì, hoặc có thể phức tạp ở mức rất cao bao quanh bởi nhiều mandala được lồng nhau mandala nhỏ bên trong mandala lớn hơn, và có đến hàng ngàn Thánh Hộ Trì. Về kích cở, nó có thể nhở như lòng bàn tay hay gồm những phần khổng lồ.

Image


Nhìn một cách tổng quát, người ta dể dàng nhận ra các mạn-đà-la cát đều được đặt trong các khuôn nền hình vuông. Toàn bộ nội dung chính của nó lại giới hạn trong một hình tròn lớn, nội tiếp trong đó sẽ là các lớp dạng vuông hay tròn đồng tâm trên mỗi lớp sẽ có các hình biểu tượng khác nhau. Tùy theo đặc tính của từng mạn-đà-la sẽ có các biểu tượng đặc trưng riêng.

Tùy theo đặc tính các mạn-đà-la có thể khác nhau rất nhiều về chi tiết. Riêng qua các sơ đồ và hình chụp một số mạn-đà-la phổ biến cho thấy:
Mạn-đà-la có bốn cổng bao bọc bởi tường thành hình vuông. Các cổng thường có hình thú giữ cổng.

Các hướng đều có biểu thị bằng màu sắc riêng.

Hình trung tâm là một hoa sen lớn với 8 cánh đi về 8 phương hướng chính. Mỗi cánh sen có thể biểu tượng cho một vị Thánh Hộ Trì thiền định. Có thể là hình hay các âm tiết chữ Phạn. Hoặc chỉ có 4 hướng Đông Tây Nam Bắc là có biểu tượng Phật.

Vành đai hay vòng trong cùng của tâm là ảnh hình tượng của Phật hay của biểu tượng Phật

Các vành đai hay vòng tròn ngoài cùng, có thể có nhiều vành đai khác nhau chẳng hạn như:

  1. Vành đai lớn nhất ngoài cùng thường thấy có 5 màu: Xanh dương, trắng, đỏ, vàng, và xanh lá cây được là các phần tử của lửa trí huệ (Fire of wisdom), vành đai này còn được gọi là Vành Đai Bảo Vệ Vĩ Đại (Great Protective Cicrle)
  2. Vành đai tròn kế tiếp vào bên trong gọi là vành đai thành tố hư không có chứa một hàng rào kim cương chùy vàng (có nơi dịch là kim cương chử) (golden vajra) đan cài vào nhau
  3. Vành đai thứ ba từ ngoài đếm vào được gọi là Vành Đai Nghĩa Địa làm từ các vành đai thành tố gió và vành đai thành tố lửa, có tài liệu 3 nói rằng có 8 loại mồ chôn biểu tượng cho 8 trạng thái của ý thức mà hành giả phải vượt qua bao gồm ý thức về nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý, bản ngã, và ý thức cơ sở.
  4. Vành đai hoa sen biểu tượng cho lời nguyện. Nhiều mạn-đà-la không có vành đai các cánh sen này mà thay vào có thể là các vành đai thành tố nước, vành đai thành tố đất được cài đan với các biểu tượng khác.
  5. Các biểu tượng được cài đan vào có nhiều loại như là Bánh xe Pháp, các mẫu tự âm tiết Phạn hạt giống, sư tử 8 chân kéo cỗ xe với hai vị Thánh Hộ Trì,...

Các kí hiệu biểu tượng khác một số trong chúng có thể là:

  1. Kim cương: Vật rắn không thể gãy bể, trong sáng và phát toả mọi màu sắc là biểu tượng cho bản chất của tâm thức
  2. Chuông: là vật giống cái, biểu tượng cho tính Không - sự mở không biên giới tạo chỗ cho trí huệ
  3. Kim cương chùy là vật giống đực, biểu tượng cho lòng từ bi vĩ đại, đem lại năng lực tỉnh thức không hư hoại. Biểu tượng này có thể có nguồn gốc từ thần sấm sét Ấn, sau đó chuyển sang dạng kim cương.
  4. Bánh xe Pháp: tượng trưng cho bát chính đạo bao gồm: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tấn, Chính niệm, và Chính định
  5. Hoa sen: tượng trưng cho giáo huấn Phật hay Phật pháp có gốc rễ từ trong bùn nhưng toả lớn hướng về phía ánh sáng và không bi vấy bùn.

Tùy theo chủ đề, mỗi mạn-đà-la có thể có các chi tiết biểu tượng khác như trong hình cấu trúc Mạn-đà-la về Lòng Từ Bi chẳng hạn.
Nếu các hình và dạng hình học đều có biểu ý riêng thì màu sắc cũng có các ý nghĩa trong mạn-đà-la. Trong một mạn-đà-la thông thường, các góc tư của cung điện mạn-đà-la được chia thành các dạng tam giác vuông cân mỗi tam giác có một màu trong năm màu trắng, vàng, đỏ, xanh lá cây và xanh dương đậm. Mỗi màu liên hệ đến một vi trong năm vi Phật huyền ảo, ý nghĩa xa hơn là 5 màu này liên hệ tới 5 ảo tưởng của con người tự nhiên. Các ảo tưởng này ngăn trở bản tính chân thực của chúng ta, nhưng xuyên qua thực hành đạo, chúng có thể được chuyển hóa thành trí huệ của 5 vị Phật tương ứng, đặc biệt là:

Màu sắc và ý nghĩa
Trắng - Phật Đại Nhật hay Tỳ-lô-giá-na (Vairocana): Ảo tưởng của vô minh trở nên trí huệ về thực tại
Vàng - Phật Bảo Sinh (Ratnasambhava): Ảo tưởng của danh vọng trở nên trí huệ về sự nhất thể
Đỏ - Phật A-di-đà (Amitabha): Ảo tưởng của chấp thủ trở nên trí huệ về sự thấu suốt
Xanh lá cây - Phật Bất Không Thành Tựu (Amoghasiddhi): Ảo tưởng của ghen tị trở nên trí huệ về sự thành tựu.
Xanh dương - Phật Bất Động hay Phật A súc (Akshobhya): Ảo tưởng của sân hận trở nên tấm gương như là trí huệ

Mạn-đà-la Từ Bi

Image


Video: Xin mời Anh Chị cùng các Bạn xem những vị sư Tây Tạng vẽ / tạo ra Mạn đà la

Bắt đầu vẽ , cho đến khi thổi cát xong
mithott
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $18,194
Posts: 1615
Joined: 17 May 2011
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng mithott từ: Thuvang, Que Huong


Return to Kiến Thức Đó Đây



Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests