Liêu Trai Chí Dị

Truyện tình mùi mẫn, truyện ma kinh rợn hay các thể loại khác. Xin mời vào.

Moderators: Mười Đậu, SongNam, A Mít

Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 16 Aug 2022

Image


Liêu trai chí dị


Bồ Tùng Linh


Nhiều dịch giả


Image


Lời Bình Của Thi Sĩ Tản Đà


Đêm thu dưới trăng, một mình ngồi nghĩ ngợi. Nghĩ rằng: Hằng Nga Quảng Hàn liệu khó có thể là có, mà tự mình không muốn bảo là không; lại cả như Khiên Ngưu, Chức Nữ, Ngân Hà, có lẽ cũng là không, mà thế gian vẫn cứ nói là có, cứ chi là có là không; không hay có, ở tự lòng vậy.
Bộ Liêu Trai, nguyên Hán văn của ông Bồ Tùng Linh soạn ra, tất cả 448 truyện; từ đời Khang Hy nhà Thanh đến nay, kể có 260 năm. Hiện nay, các bản có chú giải, đồ họa điểm xuyết, tranh in ra để lưu hành. Vậy tất có lý thú như sao, cho nên mới được người đời mến chuộng thế.
Tôi từ tuổi trẻ thôi sự học khoa cử, trong lúc vô liêu thường hay xem Liêu Trai, chỉ thấy chuyện vui mà vẫn hay, đủ là một tập sách tiêu khiển có giá trị. Mới đây, dịch bộ sách đó, nhân xem lại và nhận kỹ, thời thấy có hứng vị hơn xưa, thấy rằng:
Bộ Liêu Trai của Tàu, cùng với quyển Truyện Kiều của ta tuy văn xuôi, văn vần khác nhau mà cái tài học của tác giả, cái giá trị của văn chương thực giống nhau lắm. Hai tác giả cùng bậc học rộng, mà văn có đại tài. Cụ Nguyễn Du viết quyển Kiều, bao nhiêu câu lục bát, mà không câu nào phảng phất với câu nào. Ông Bồ Tùng Linh viết Liêu Trai, hay bao nhiêu chuyện dài, ngắn, mà không chuyện nào phảng phất với chuyện nào, điển tích dẫn dùng, lời lẽ gọt chuốt, đều hoành bác mà tinh công. Cho nên đều được người đời mến chuộng về lâu dài, là một lẽ xứng đáng. Tác giả Liêu Trai là người ở Trung Quốc; sinh vào đời Mãn Thanh, chắc chắn có chỗ u phẫn mà mượn tập truyện đó để khiển hoài; cũng như cụ Nguyễn Du ta là cố thần nhà Lê, mà bùi ngùi vì thân thế xuất xứ vậy.
Riêng nói về bộ Liêu Trai này, chuyện hồ quỷ chiếm có quá nửa, minh bạch là câu chuyện bịa đặt, mà cái hay cứ hay. Cái hay của Liêu Trai, như nghìn vạn cảnh trạng ở nhân gian đều thu vào phiến ảnh rất nhỏ bé, mà cảnh nào tình ấy, nhận cho kỹ, sẽ thấy được rõ ràng. Lật những ý tưởng quang minh chính đại, những kiến thức khoáng đạt cao siêu, đều tùy thế truyện, mượn mồm người mà phát ra ngôn luận, đặt làm văn chương. Cho nên cái hay không chỉ là đáng yêu, mà phần đáng trọng rất không ít. Cho nên không thể coi như một bộ tiểu thuyết tầm thường, mà cũng không phải như Chức Nữ, Hằng Nga, chỉ thanh tú mà không có thiết đến nhân thế. Ấy là cái giá trị xác thực của Liêu Trai…

Hà Đông, năm Mậu Dần
Sau tiết Trung Thu một ngày
Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu



Image
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,486
Posts: 13695
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 16 Aug 2022

Bức Họa Trên Tường(1) (Họa Bích)


Mạnh Long Đàm, người Giang Tây, với Hiếu Liêm(2) họ Chu đều là khách trọ ở kinh đô. Ngẫu nhiên cùng dạo chơi một cảnh chùa. Điện Phật, giải vũ, phòng tăng đều không lấy gì làm rộng rãi. Chỉ có một vị sư già trụ trì trong đó, thấy khách vào bèn xốc áo ra đón, rồi dẫn khách đi xem khắp đó đây.
Trong điện có tô tượng Chí Công(3), hai bên tường đều vẽ vời rất tinh xảo, nhân vật thảy đều như sống thật. Tường bên Đông vẽ bức “Thiên nữ rắc hoa”, ở trong có một thiếu nữ buông mái tóc thề, tay cầm bông hoa, miệng hé cười, đôi môi anh đào muốn nhấp nháy, làn sóng mắt dường như đung đưa. Chàng Chu chú mục giây lâu, bất giác như bị mất hồn, bàng hoàng thờ thẫn. Rồi thân thể bỗng nhiên phơi phới, như cưỡi trên mây mù, thoắt cái đã bay lên đến bức tường. Nhìn thấy lầu gác trùng trùng không phải là cõi trần. Một vị sư già đang thuyết pháp ở trên tòa, những người mặc áo hở vai(4) vây xung quanh đông vô kể. Chu cũng đứng lẫn vào trong số đó. Một chốc, tựa như có người ngầm kéo vạt áo, quay lại thì ra cô thiếu nữ có mái tóc thề, đang vừa cười vừa quay đi. Chàng lập tức trở gót bước theo. Qua những hành lang quanh co thì có một căn phòng nhỏ. Chu ngập ngừng không dám tiến nữa nhưng thiếu nữ đã quay đầu lại, đưa bông hoa trong tay lên có ý vẫy gọi, chàng liền bước theo vào. Trong phòng tịnh không có người, chàng vội ôm chầm lấy, nàng cũng không kháng cự gì lắm, bèn cùng nhau giao hoan thỏa thích. Xong rồi nàng đóng cửa ra đi, dặn Chu đừng hỏi. Đến đêm, lại đến.

(1) Nguyên văn: “họa bích” là bức tường vẽ, chúng tôi dịch thoát.
(2) Tức cử nhân.
(3) Theo thần tiên truyện, Chí Công mặt sáng như gương, tay chân có móng như chim.
(4) Tức áo nhà sư.




Image

Cứ thế được hai hôm, các bạn gái nàng biết được, cùng nhau tìm thấy chàng, liền trêu trọc nàng rằng:
- Cậu bé trong bụng đã lớn tướng mà còn để mái tóc bồng bồng, cũng học đòi làm “gái trinh”(1) ư?

(1) Nguyên văn là “xử tử”, cũng như “xử nữ”, tức là người phụ nữ ở vậy, không kết hôn…

Rồi bảo nhau đưa cho nàng nào trâm, nào hoa tai, bắt nàng cuốn ngược tóc lên (2). Cô gái thẹn thùng, không nói lời nào. Một nàng bảo:

(2) Tục lệ xưa ở Trung Quốc, con gái đã có chồng thì phải làm lễ vén tóc, để quấn mái tóc thề lên đầu, gọi là “thướng hoàn”.

- Chị em ơi, tụi mình đứng đây lâu, kẻo người ta mất vui.
Cả bọn liền cười và bỏ đi. Chàng nhìn lại nàng, thì tóc mây đã búi cao lên, vành tóc phượng buông thấp xuống, so với cô gái để tóc thề lúc trước lại càng xinh đẹp gấp bội. Nhìn quanh không có ai, bèn dắt nhau bước vào cuộc ân ái. Hương lòng rạo rực, lạc thú đang nồng, thì bỗng đâu nghe tiếng ủng da cồm cộp rất dữ, dây xích và khóa kêu loảng xoảng, cộng thêm tiếng quát tháo, tiếng cãi cọ huyên náo. Nàng kinh hoàng nhỏm dậy, cùng với chàng đều ghé mắt nhìn trộm ra ngoài, thì thấy một vị sứ giả mặc áo giáp vàng, mặt đen như sơn, tay cầm khóa, tay nắm chùy, đám thiếu nữ xúm xít xung quanh. Sứ giả nói:
- Đã đủ chưa?
Có tiếng đáp:
- Đủ cả rồi.
Sứ giả lại nói:
- Nhược bằng có chứa chấp người hạ giới thì lập tức bảo nhau cùng khai ra, chớ để phải hối về sau.
Cả bọn đồng thanh đáp:
- Không có đâu!
Sứ giả quay người, đưa cặp mắt cú vọ nhìn quanh, tựa hồ tìm ra kẻ đang nấp. Cô gái cả sợ, mặt xám như tro, thảng thốt bảo chàng:
- Mau trốn xuống gầm giường.
Rồi mở cánh cửa ngách bên tường, lẻn đi mất.
Chu nằm bẹp xuống, không dám thở. Giây lát nghe tiếng ủng đi vào trong phòng rồi lại đi ra. Chẳng bao lâu tiếng huyên náo xa dần, bụng đã yên, nhưng ngoài cửa vẫn có tiếng người qua lại bàn bạc. Cứ thấp thỏm như thế giờ lâu, đến lúc bên tai như có tiếng ve kêu, trong mắt nẩy đom đóm, tình trạng ngỡ không chịu nổi nữa, chỉ còn cố lắng tai để đợi nàng về, cuối cùng cũng không còn nhớ thân mình từ đâu mà đến đây.
Bấy giờ Mạnh Long Đàm đang đứng trước điện thờ chớp mắt đã không thấy Chu đâu, ngờ vực hỏi nhà sư. Vị sư cười đáp:
- Đi nghe thuyết pháp rồi.
Mạnh Long Đàm hỏi:
- Ở đâu?
Nhà sư đáp:
- Không xa.
Một chốc nhà sư bèn chỉ tay lên tường mà gọi to lên rằng:
- Ông đàn việt(1) họ Chu, đi chơi lâu thế, sao chẳng quay về?

(1) Đàn việt cũng như “thí chủ”, là tiếng nhà Phật gọi người đi lễ chùa.


Liền thấy giữa bức họa trên tường có hình của Chu, đang đứng nghển cổ lắng tai, chừng như đã nghe hiểu. Nhà sư lại gọi tiếp:
- Ông bạn cùng đi đợi lâu rồi đấy.
Thế rồi Chu bồng bềnh từ trên tường bay xuống, lòng lạnh như tro, người cứng đờ như gỗ, mắt trừng trừng, chân bủn rủn. Mạnh đâm hoảng, sẽ sàng hỏi han. Thì ra lúc đó Chu đang núp dưới giường, bỗng nghe tiếng gõ vang như sấm, vội chui ra khỏi phòng để nghe ngóng tình hình. Cả hai cùng ngước nhìn cô gái nhón hoa thì mái tóc vặn hình ốc đã cuốn cao lên, không còn xõa tóc nữa. Chu khiếp sợ, vái vị sư già mà hỏi duyên cớ.
Nhà sư cười đáp:
- Ảo là do mình sinh ra, bần đạo làm sao giải thích được!
Chu ỉu xìu mất cả khí thế. Mạnh sợ hãi không còn tự chủ nổi, vội đứng dậy lần bậc thềm ra về.

Nguyễn Huệ Chi dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,486
Posts: 13695
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 16 Aug 2022

Hồ gã con (Hồ giá nữ)


Ông thiên quan họ Ân, người Lịch Thành(1), thuở nhỏ nhà nghèo, thường tỏ ra gan dạ. Trong ấp có khu nhà của một cố gia, rộng đến vài chục mẫu, lầu viện liền nóc, thường thấy chuyện quái dị, vì thế mà bỏ hoang, không ai ở. Lâu ngày tranh cỏ mọc um tùm, giữa ban ngày cũng không ai dám bén mảng đến.

(1) Một huyện thuộc tỉnh Sơn Đông.


Có hôm, ông đang cùng các bạn học trò uống rượu, có người nói đùa:
- Ai dám ngủ trong nhà đó một đêm, chúng tôi sẽ góp tiền đãi bữa rượu.
Ông nhổm ngay dậy, nói:
- Khó gì việc ấy!
Rồi cắp một chiếc chiếu mà đi. Chúng bạn tiễn đến cổng, bảo đùa rằng:
- Chúng tôi hẵng đợi ngoài này, nếu như có thấy điều gì thì kíp gọi to lên.
Ông cười đáp lại:
- Nếu có ma thì sẽ tóm cổ đưa về làm bằng.
Nói rồi đi vào. Thấy lau sậy mọc khuất cả lối đi, các loài cỏ dại mọc rậm như gai. Hôm đó, nhằm khoảng đầu tháng, trăng non mờ nhạt, nên cửa ngõ cũng phân biệt được. Đưa tay lần vách mà đi, mãi mới đến khu lầu phía sau. Trèo lên sân thưởng nguyệt, thấy sáng sủa, sạch sẽ rất thích, bèn ngừng lại ở đó. Ngoảnh về phía Tây, một vành trăng sáng ngậm trên đầu núi. Ngồi một lúc lâu, không thấy có gì lạ, trong bụng cười thầm cho là thiên hạ đồn hão. Rồi giải chiếu xuống đất, gối đầu lên hòn đá, nằm ngắm sao Ngưu Lang Chức Nữ.
Canh khuya, lơ mơ muốn ngủ, chợt nghe dưới lầu có tiếng giầy lẹp kẹp đi lên. Ông vờ ngủ, ghé mắt xem, thấy một cô áo xanh(1) xách chiếc đèn hoa sen; thốt nhiên nhìn thấy ông thì giật mình lùi bước, bảo với người đi sau rằng:

(1) Ngày xưa, người nghèo hèn thường mặc áo xanh, về sau chữ “áo xanh” để chỉ người hầu gái.

- Có người lạ ở trên này.
Bên dưới hỏi:
- Ai vậy?
Đáp rằng:
- Không biết.
Giây lát, một ông già bước lên, đến tận nơi nhìn kỹ, nói:
- Đây là quan thượng thư họ Ân. Ngài đã ngủ say, ta cứ làm việc mình. Ông lớn là người không câu nệ, chắc không lấy làm lạ mà quở trách đâu.
Họ bèn đưa nhau lên, vào cả trong lầu. Các cửa lầu mở hết. Một lát nữa, kẻ đi người lại càng nhiều. Trên lầu, đèn sáng như ban ngày. Ông khẽ cựa mình, cất tiếng ho hắng. Ông già thấy ông đã tỉnh, bèn bước ra, quỳ xuống thưa rằng:
- Kẻ hèn mọn này có đứa con gái sắp gả chồng, đêm nay cho cháu làm lễ vu quy; không ngờ xúc phạm đến quan nhân, mong ngài lượng thứ.
Ông ngồi dậy, đỡ ông lão lên nói:
- Không biết hôm nay là ngày vui mừng của nhà ta, thật áy náy vì không có gì để mừng tặng.
Ông già đáp:
- Được quý nhân hạ cố, trấn áp điềm hung hiểm, là may lắm rồi. Lại xin được phiền ngài ngồi lại cùng vui, quý hóa biết chừng nào.
Ông cũng mừng, nhận lời. Vào trong lầu, nhìn xem, thấy bày biện đẹp đẽ, trang nhã. Lúc ấy, có người đàn bà bước ra vái chào, tuổi đã ngoại bốn mươi. Ông già nói:
- Đây là tiện nội.
Ông vái chào lại.
Bỗng nghe tiếng sênh, tiếng nhạc cất lên inh tai, có người nhà chạy lên thưa:
- Đến rồi!
Ông lão chạy ra đón, ông cũng đứng đợi. Phút chốc, một chiếc đèn lồng bằng sa mỏng, dẫn chú rể vào. Chú rể tuổi khoảng mười bảy mười tám, vẻ người sáng sủa, thanh tú. Ông già bảo hãy chào quan khách trước. Chàng trai đưa mắt nhìn ông. Ông giữ chân tiếp khách dùm chủ nhà, nên nhận lễ nửa khách nửa chủ. Thứ đến là bố vợ và chàng rể giao bái. Xong, bèn ngồi vào bàn tiệc.
Một loáng, đám người phấn sáp kéo lên như mây. Rượu thịt bày la liệt. Chén ngọc, bình vàng sáng nhoáng, chiếu rọi lên bàn ghế. Rượu được vài tuần, ông già bảo con hầu vào mời tiểu thư ra. Con hầu vâng lời đi vào, lúc lâu vẫn không thấy ra. Ông lão tự mình đứng lên, vén bức màn, giục ra. Phút chốc, một bọn hầu gái, trẻ có già có, cùng đỡ cô dâu ra. Tiếng ngọc đeo vang lên lanh canh, mùi lan thơm sực nức. Ông già truyền bảo nàng hãy trông lên mà chào lạy. Lạy xong cô dâu đứng dậy, ngồi bên cạnh bà mẹ. Ông đưa mắt liếc nhìn, thấy cô tóc phượng cài trâm thúy, tai đeo ngọc minh châu, dung nhan tuyệt đẹp.
Thế rồi, rót rượu vào chén vàng, mỗi chén lớn chừng vài đấu. Ông nghĩ: vật này có thể đưa cho mọi người xem làm chứng được, bèn giấu vào trong tay áo rồi vờ say, tựa xuống ghế, gục đầu mà ngủ.
Mọi người đều nói:
- Ông lớn say rồi!
Không bao lâu, nghe chú rể có lời xin rước dâu. Tiếng nhạc, tiếng sênh lại nổi lên, mọi người nhộn nhịp xuống lầu ra đi. Xong xuôi, chủ nhân thu dọn bàn tiệc, thấy thiếu mất một cái chén, tìm khắp không thấy. Có người bàn vụng, ngờ cho ông khách đang nằm ngủ. Ông già vội gạt đi không cho nói hết, chỉ sợ ông nghe được.
Lúc lâu nữa, trong ngoài im lặng cả, ông mới trở dậy. Tối mò không có đèn đuốc gì, chỉ có mùi thơm của phấn sáp và hơi rượu, như còn đầy cả bốn quanh tường. Trông ra, hừng đông đã rạng, bèn thong thả bước ra. Sờ vào trong tay áo, cái chén vàng vẫn còn. Ra đến cổng thì bạn bè đã đợi sẵn, có ý ngờ ông ban đêm lẻn ra gần sáng mới trở vào. Ông đưa chén cho xem, ai cũng kinh ngạc dò hỏi. Bèn kể rõ đầu đuôi cho biết. Mọi người đều nghĩ vật này thì anh học trò nghèo chẳng thể nào có, mới tin là chuyện thực.
Về sau, ông thi đỗ Tiến sĩ, nhậm chức ở Phì Khâu. Có nhà thế gia họ Chu thết tiệc ông, sai lấy bộ chén lớn, mãi vẫn không thấy mang ra. Có đứa hầu nhỏ che miệng nói thầm với chủ nhân điều gì đấy, nét mặt chủ nhân có vẻ tức giận. Một lát, đem bộ chén vàng ra, rót mời khách uống. Nhìn kỹ kiểu chén cùng đường chạm trổ, không khác chút gì với thứ chén của hồ dạo nào. Lấy làm lạ lùng, ông hỏi chén chế tạo ở đâu. Chủ nhân đáp:
- Bộ chén này cả thảy có tám chiếc, đời ông thân tôi làm quan Khanh tại kinh, kén tìm thợ khéo chế ra, nên lấy làm vật gia bảo truyền thế, cất kỹ đã từ lâu. Vì được đại nhân hạ cố mới lấy ở trong hòm ra, thì chỉ còn bảy chiếc. Ngờ người nhà lấy trộm, mà dấu niêm phong mười năm vẫn như cũ, thật chẳng hiểu sao nữa.
Ông cười, bảo:
- Chén vàng mọc cánh bay mất rồi, nhưng vật báu truyền đời không nên để cho mất. Tôi có một chiếc cũng gần giống, xin đem để tặng ngài.
Tiệc xong, về dinh, ông lấy chén ra, cho người mang đến. Chủ nhân xem kỹ, rất kinh hãi, đích thân đến tạ ơn, và hỏi duyên do chiếc chén từ đâu. Ông bèn kể lại đầu đuôi câu chuyện. Mới hay rằng vật ngoài nghìn dặm, hồ cũng có thể lấy được, duy chỉ không dám giữ hẳn làm của mình.

Nguyễn Đức Lân dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,486
Posts: 13695
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 16 Aug 2022

Đạo sỉ núi Lao (Lao Sơn đạo sĩ)


Ấp tôi có chàng họ Vương, vào hàng thứ bảy, là con nhà cố gia, tuổi trẻ mộ đạo. Nghe nói núi Lao Sơn có nhiều tiên ở, liền quẩy tráp đi thăm. Trèo lên một ngọn núi, thấy có nhà quán, um tùm râm mát. Một vị đạo sĩ ngồi trên tấm bồ đoàn(1), tóc trắng rủ xuống tận cổ, tinh thần trông sắc sảo. Khấu đầu, bắt chuyện, thấy đạo lý rất huyền diệu, bèn xin thờ làm thầy. Đạo sĩ nói:

(1) Chiếc chiếu đan bằng cỏ bồ, hình tròn, để người tu hành quỳ hoặc ngồi cho êm, mỗi khi hành lễ.

- Chỉ sợ sức yếu, không chịu nổi khó nhọc.
Thưa là “Được”.
Học trò đạo sĩ đông lắm, gần tối mới kéo hết về. Vương cùng họ cúi đầu làm lễ, rồi lưu lại trong quán.
Sáng tinh sương, đạo sĩ gọi Vương, đưa cho cái búa, bảo theo đám học trò đi hái củi. Vương kính cẩn vâng lời.
Được hơn một tháng, tay chân phồng rộp thành chai, cực khổ không chịu nổi, đã ngầm có bụng muốn về. Một buổi chiều, trở về, thấy hai người khách đang cùng thầy uống rượu. Trời đã tối mà chưa thấy đèn lửa gì cả. Thầy bèn cắt một miếng giấy như hình cái gương, dán lên vách. Phút chốc, ánh trăng vằng vặc soi sáng khắp nhà(2), trông rõ từng sợi tơ, cái tóc. Đám học trò chạy quanh hầu hạ.

(2) Có bản “soi sáng khắp vách”.

Một người khách nói:
- Đêm nay đẹp trời có thể vui chơi, nên cho ai nấy cùng vui.
Bèn lấy hồ rượu trên bàn, chia cho đám học trò, lại dặn nên uống thật say. Vương nghĩ bụng: bảy tám người một hồ rượu, làm sao cho đủ được? Mỗi người đều đi tìm chén, bát(1) tranh nhau rót uống trước, chỉ sợ rượu trong hồ hết mất. Thế mà rót hết lần này lượt khác, vẫn chẳng vơi đi chút nào. Bụng thầm lấy làm lạ. Giây lát, một vị khách nói:

(1) Nguyên văn là “ang”, tức cái chậu; chúng tôi dịch thoát.

- Đã làm ơn ban cho ánh sáng trăng, mà lại chỉ tịch mịch uống suông. Sao không gọi Hằng Nga xuống chơi?
Đạo sĩ bèn lấy một chiếc đũa, vứt vào trong trăng. Bỗng thấy một người đẹp từ trong vùng ánh sáng bước ra; mới đầu chưa đầy một thước, xuống đến đất thì cao lớn như người thường; lưng thon nhỏ, cổ trắng muốt, phấp phới múa khúc Nghê thường.
Rồi ca rằng:

Tiên, tiên nào!
Về đây nao!
Giữ ta mãi chốn Quảng hàn sao!


Âm thanh trong trẻo, cao vút, nghe hay như tiếng tiêu, tiếng sáo. Ca xong, uốn lượn mà đứng lên, rồi nhảy lên mặt bàn, ngoảnh đi ngoảnh lại, đã biến trở lại thành chiếc đũa. Ba người cùng cười lớn. Một vị khách nói:
- Đêm nay vui quá, nhưng tửu lượng không biết đâu cho cùng! Có thể tiễn chúng tôi lên cung nguyệt được chăng?
Ba người bèn dời chiếu tiệc vào dần trong trăng. Mọi người nhìn thấy rõ cả ba đang ngồi trong trăng uống rượu, râu, lông mày, đều trông thấy hết, như bóng hiện trong gương. Một chốc, ánh trăng mờ tối dần; học trò châm đèn mang đến thì một mình đạo sĩ còn ngồi đấy mà khách đã biến đâu mất. Trên bàn thức nhắm hãy còn. Mà mặt trăng trên vách chỉ còn là miếng giấy tròn như tấm gương mà thôi. Đạo sĩ hỏi:
- Đã uống đủ cả chưa?
Cùng thưa:
- Đủ cả.
- Đủ rồi thì nên đi ngủ sớm, đừng làm lỡ việc kiếm củi ngày mai.
Chúng đều “vâng” mà lui ra. Vương lòng thầm thích thú, hâm mộ, bụng muốn về lại tiêu tan.
Lại một tháng nữa, khổ không thể nào kham nổi, mà đạo sĩ tịnh không truyền dạy cho một phép nào. Sốt ruột không chờ được nữa, bèn lên cáo từ rằng:
- Đệ tử này vượt mấy trăm dặm đường đến đây thụ nghiệp với thầy; dẫu chẳng học được cái thuật trường sinh bất tử, thì cũng mong thầy dạy cho chút gì gọi là hả tấm lòng cầu học. Thế mà qua hai ba tháng, chỉ những sáng đi kiếm củi, tôi lại trở về. Hồi còn ở nhà, đệ tử chưa bao giờ phải chịu khổ như thế.
Đạo sĩ cười, bảo:
- Ta vẫn nói là anh không kham nổi khó nhọc, nay đã quả nhiên. Sáng mai, sẽ có người dẫn anh về.
Vương nói:
- Đệ tử làm lụng đã bao ngày, xin thầy dạy cho một thuật mọn, khỏi phụ công lao đệ tử lặn lội tới đây.
Đạo sĩ hỏi:
- Muốn học thuật gì?
Vương đáp:
- Thường thấy thầy đi đâu, tường vách không ngăn cản được. Chỉ xin được một phép ấy cũng đủ.
Đạo sĩ cười nhận lời. Bèn đem bí quyết truyền cho, bảo miệng đọc mấy câu thần chú, xong rồi hô: “vào đi!” Vương đối diện với bức tường mà không dám vào. Đạo sĩ lại bảo:
- Cứ vào thử đi!
Vương theo lời, thong thả tiến lại, đến tường thì bị vấp. Đạo sĩ bảo:
- Cúi đầu, vào rõ nhanh, đừng lần chần!
Vương quả quyết, đứng cách tường mấy bước, lao nhanh tới. Gặp tường, cảm thấy trống không như không có vật gì cả. Quay nhìn lại, thì đã ở bên kia tường rồi. Mừng quá, vào lạy tạ. Đạo sĩ bảo:
- Về nhà nên giữ mình đứng đắn, không thế thì phép không nghiệm nữa đâu.
Nói rồi cấp lộ phí cho mà về.
Đến nhà, chàng khoe đã gặp tiên, tường vách dày đến đâu cũng không thể ngăn mình được. Vợ không tin. Vương làm đúng như đạo sĩ đã dạy, đứng cách tường mấy bước, chạy ù vào. Đầu đụng phải tường cứng, bỗng ngã lăn đùng. Vợ đỡ dậy, nhìn xem, thấy trán đã sưng lên như một quả trứng lớn. Vợ đưa ngón tay lêu lêu, giễu cho. Vương vừa thẹn vừa ức, chỉ biết chửi lão đạo sĩ bất lương mà thôi.

Nguyễn Đức Lân dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,486
Posts: 13695
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 16 Aug 2022

Thụy Vân


Thụy Vân là danh kỹ của đất Hàng(1). Nhan sắc tài nghệ có một. Năm tuổi vừa mười bốn, mẹ là mụ đầu họ Sái định cho nàng ra tiếp khách. Thụy Vân thưa rằng:

(1) Tức Hàng Châu, tỉnh lỵ tỉnh Triết Giang.

- Đây là lúc bánh xe đời con bắt đầu vần chuyển, không nên qua loa cẩu thả. Giá do mẹ định, nhưng khách thì xin cho con được tự lựa chọn.
Mẹ bảo được, bèn định giá mười lăm đồng vàng rồi hàng ngày ra tiếp khách.
Khách muốn gặp thì phải có lễ, lễ hậu được tiếp một ván cờ, và biếu trả lại một bức vẽ, lễ bạc thì giữ lại uống chén trà mà thôi.
Thụy Vân lừng tiếng đã lâu, từ đó các bậc đại thương, giới quyền quý, ngày ngày nối gót nhau vào cửa.
Trần Dư - hàng có người thư sinh họ Hạ, tài danh nức tiếng đã lâu, mà gia tư chỉ vào bậc trung. Chàng vốn ngưỡng mộ Thụy Vân, nhưng chưa dám nghĩ đến mộng uyên ương, cũng gắng hết sức sắm được một chút lễ mọn, chỉ mong một phen nhìn ngắm mặt hoa, mà vẫn thầm lo nàng trải đời đã nhiều, sẽ không đoái hoài đến một kẻ sĩ bần bách như mình. Đến lúc gặp mặt, trò chuyện dăm câu, nàng đã tiếp đãi rất mực ân cần. Ngồi nói chuyện giờ lâu, đầu mày cuối mắt đều chứa chan tình ý. Lại tặng chàng bài thơ rằng:

Việc gì kẻ xin nước
Cầu Lam phải nện sương?
Có lòng tìm chày ngọc,
Ngay giữa chốn người thường(1)


(1) Bốn câu này đại ý nói: muốn tìm nhân duyên hạnh phúc không cần gì phải lên tiên, chỉ tìm ở trần gian cũng có. Theo Thần tiên truyện, Bùi Hàng đi qua Lam Kiều lúc còn tinh sương, khát lắm, vào cái quán bên đường để xin nước uống. Bà lão chủ quán sai con gái là Vân Anh mang nước cho Hàng uống. Bà nói muốn lấy Vân Anh thì phải tìm cho bà ta chày ngọc và cối ngọc, để bà giã thuốc trường sinh bất tử. Sau đó, Bùi Hàng tìm được chày, cối ngọc, bà lão giã thuốc, uống thành tiên trước, Bùi Hàng, Vân Anh uống sau, cũng thành tiên.

Được thơ, chàng mừng rỡ như cuồng, còn muốn nói nữa, bỗng con hầu vào báo khách đến, bèn vội vàng từ biệt. Về nhà, đem bài thơ ra ngắm nghía ngâm nga, tơ lòng vương vít. Được một hai ngày cầm lòng không đậu, lại phải sắm sửa lễ vật rồi trở lại.
Thụy Vân đón tiếp niềm nở, dần dần ngồi dịch lại gần chàng, nét mặt rầu rầu mà rằng:
- Có thể lo toan được một đêm sum họp với nhau không?
Chàng đáp:
- Học trò túng kiết chỉ có tấm tình si là có thể đem tặng tri kỷ; sắm được cái lễ nhỏ mọn thì bao nhiêu tơ tằm đã rút hết; được gần mặt hoa là mãn nguyện lắm rồi, còn như tựa gió kề hoa dám đâu mộng tưởng.
Thụy Vân nghe nói chau mày không vui, hai người chỉ nhìn nhau mà không nói gì.
Chàng ngồi lâu không ra; mụ chủ mấy lần gọi Thụy Vân, có ý thúc giục chàng về đi. Chàng bèn ra về, trong lòng rười rượi. Muốn khánh kiệt gia sản để chuốc lấy một lần vui, nhưng lại nghĩ, sum họp một đêm rồi phải ly biệt suốt đời, tình trạng ấy chịu làm sao nổi. Trù tính đến đấy thì nỗi lòng hăm hở đều tiêu tan hết.
Từ đó bặt không có tin tức vãng lai gì.
Thụy Vân kén rể mấy tháng mà chưa chọn được nơi nào xứng đáng. Mụ đầu khá bực tức, rắp toan ép uổng duyên nàng nhưng cũng chưa ra tay. Một hôm có chàng tú tài(1) đem lễ biếu đến xin ra mắt, ngồi nói chuyện chốc lát liền nhổm dậy, lấy ngón tay ấn lên trán nàng mà nói: “Đáng tiếc, đáng tiếc” rồi bỏ đi.

(1) Chữ tú tài ở Trung Quốc không có nghĩa là một học vị dưới cử nhân, mà lúc đầu tên gọi khoa thi, về sau gọi chung người đỗ đạt. Dưới các đời Minh Thanh thì học trò được tuyển vào các trường phủ, huyện đều bắt đầu được gọi là tú tài. Vì vậy, ở đây, tú tài chỉ có nghĩa như thư sinh, sinh viên, chư sinh.

Image


Thụy Vân tiễn khách ra, trở lại, thì mọi người đều thấy trên trán nàng có dấu tay in đen như mực, càng rửa càng thêm rõ.
Sau đó vài ngày vết mực dần dần lan rộng, hơn một năm sau thì lan khắp trán, đến cả mũi nữa. Ai nấy cũng cười, mà từ đó, dấu vết xe ngựa ở ngoài cũng dần dần mất hẳn.
Mụ lột hết trang sức, xếp nàng vào hàng ngũ con hầu. Thụy Vân vốn ẻo lả không đương nổi công việc tôi đòi, ngày càng thêm tiều tuy.
Hạ nghe nói, đi qua ghé vào, thấy bù đầu ở dưới bếp, xấu xí như ma, ngẩng đầu thấy chàng thì ngoảnh mặt vào tường mà tránh.
Hạ đem lòng thương xót, bèn nói với mụ, muốn chuộc nàng về làm vợ. Mụ bằng lòng. Hạ bán ruộng và dốc hết hành trang vốn liếng mua nàng đem về. Đến nhà, nàng kéo áo lau nước mắt, không dám tự xem là người sánh vai với chàng, chỉ xin giữ phận làm lẽ, để ngôi chính thất chờ người sau này. Hạ nói:
- Ở đời cái đáng quý là tri kỷ. Lúc khanh đang thịnh, khanh còn biết đến tôi, lẽ nào vì khanh suy mà tôi lại quên khanh?
Rồi không chịu cưới ai nữa. Ai nghe nói việc này cũng cười cợt, nhưng với chàng thì mối tình càng thêm nồng thắm.
Được hơn một năm, Hạ ngẫu nhiên đến đất Tô, gặp chàng thư sinh họ Hòa, cùng trọ một chỗ. Bỗng dưng Hòa hỏi rằng:
- Danh kỹ đất Hàng là Thụy Vân gần đây ra sao?
Hạ đáp:
- Đã lấy chồng rồi.
Hòa lại hỏi:
- Lấy ai đấy?
Đáp:
- Người đó cũng đại loại như tôi.
Hòa nói:
- Được như anh thì có thể nói là đúng người rồi đấy, không biết giá bao nhiêu?
Hạ nói:
- Mắc phải bệnh lạ nên cũng rẻ thôi, chẳng thế, như loại chúng tôi sao lại có thể mua được người đẹp.
Hòa lại hỏi:
- Người đó quả thật có được như anh không?
Hạ thấy anh ta hỏi hơi lạ, nhân đó cũng căn vặn hỏi lại. Hòa cười mà nói rằng:
- Thực không giấu nhau nữa. Năm trước tôi từng được chiêm ngưỡng danh hoa một lần, rất lấy làm tiếc rằng tài mạo tuyệt vời mà lênh đênh không vừa đôi phải lứa, cho nên đã dùng một thuật mọn làm giảm bớt ánh hào quang, và giữ gìn lấy vẻ ngọc, để dành lại đó chờ tấm gương soi thật mặt(1) của kẻ yêu tài.

(1) Có những cái gương soi không thật mặt, người đẹp thành xấu, người xấu thành đẹp. Ở đây ví người yêu tài như cái gương soi thật mặt, phản ánh đúng người đẹp người xấu.

Hạ vội hỏi:
- Anh đã chấm được thì cũng có thể rửa được chứ?
Hòa cười mà nói rằng:
- Sao lại không được, nhưng mà cần vai chính thành tâm cầu xin thì mới được.
Hạ đứng dậy vái mà rằng:
- Người chồng của Thụy Vân tức là tôi đây!
Hòa mừng quá, nói:
- Trong thiên hạ chỉ có người chân tài mới thật đa tình, không vì chuyện xấu đẹp mà thay đổi ý nghĩ. Anh cho tôi theo anh về nhà, tôi sẽ tặng anh một người đẹp.
Bèn cùng nhau về. Đến nơi, Hạ bảo dọn rượu, Hòa vội gạt đi mà rằng:
- Để tôi làm phép trước đã, thì người dọn cỗ mới vui lòng chứ!
Tức thì bảo bưng lên một thau nước, lấy ngón tay thư (1) lên trên nước mà nói rằng:

(1) Người làm phép đưa tay viết lên không gọi là thư.

- Rửa đi thì khỏi ngay! Nhưng phải thân ra tạ ơn người làm thuốc đấy!
Hạ cười, bưng thau đi vào, đứng đợi Thụy Vân tự rửa mặt trong thau, tay đưa đến đâu thì sạch đến đấy, diễm lệ chẳng khác gì năm xưa.
Vợ chồng cảm cái hậu đức của Hòa, cùng nhau ra ngoài tạ ơn, thì khách đã mất hút đâu rồi, tìm khắp nơi cũng không được.
Có lẽ là tiên chăng?

Cao Xuân Huy dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,486
Posts: 13695
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 16 Aug 2022

Cô Tân thứ mười bốn (Tân thập tứ nương)


Quảng Bình Phùng sinh người ở khoảng triều Chánh Đức nhà Minh, từ lúc còn nhỏ đã có tính bê tha hay rượu. Một hôm, tảng sáng đi chơi tha thẩn, gặp một thiếu nữ trùm vạt áo màu đỏ, nhan sắc cực xinh, có thằng nhỏ theo hầu, xăng xái dầm sương ướt cả giày tất; chàng trông thấy động lòng, thầm mơ trộm ước.
Chiều tối, say rượu trở về, bên đường vốn có ngôi chùa cũ, sân cỏ rêu mọc đã lâu, chàng bỗng thấy người con gái từ trong chùa ấy đi ra, nhìn lại chính là người đẹp ban sáng.
Nàng chợt thấy chàng đi qua, vội vàng day mình trở vào chùa.
Phùng sinh nghĩ thầm, người đẹp thế kia sao lại ở trong ngôi chùa hoang phế? Lập tức buộc lừa ngoài cổng, rồi theo dõi vào tận chùa dò xem. Vào thấy tường đổ tứ tung, đầy thềm cỏ mọc, còn đương ngần ngừ về sự lui tới, thì một cụ già tóc bạc từ trong đi ra, áo mũ tươm tất sạch sẽ hỏi chàng từ đâu tới.
Chàng nói:
- Tôi thấy ngôi chùa cổ, nên muốn vào coi cho biết. Còn cụ vì sao lại ở trong này?
Cụ già đáp:
- Lão lênh đênh không có chỗ ở, nên phải tạm mượn cảnh chùa cho bầy trẻ ở đỡ. May mắn được ông chiếu cố, xin mời vào uống một chén trà núi để thay chén rượu.
Nói đoạn, cụ kính cẩn mời Phùng vào chơi.
Phùng theo vào phía trong điện, tới một căn nhà đường đi lót đá bóng trơn, không thấy rêu phong cỏ mọc đâu cả. Vào trong nhà, các thứ màn giường nệm chiếu đều có mùi hương ngào ngạt. Ngồi nói chuyện và hỏi thăm họ tên, cụ già đáp:
- Tôi là lão già Mông họ Tân.
Phùng thừa cơn say, hỏi liền:
- Nghe như cụ có một cô chưa lấy chồng, tôi không xét mình, tự nguyện làm rể, mong đài gương soi đến dấu bèo, có được chăng?
Tân lão cười và nói để bàn tính với vợ đã. Phùng cao hứng liền cầm bút viết bài thơ:

Ngàn vàng mua chày ngọc,
Ân cần dâng tận tay.
Vân Anh nếu đoái tưởng,
Giã thuốc hộ nàng ngay(1).


Ông cụ xem thơ mỉm cười trao cho người nhà xem. Giây lát con hầu ở nhà trong ra nói thầm bên tai Tân lão. Tân lão đứng dậy, yên ủi chàng cố ngồi đợi, rồi cụ vén màn vào trong buồng, nghe văng vẳng cụ nói chuyện một hai câu, lại trở ra liền.

(1) Nguyên văn:
“Thiên kim tầm ngọc chữ;
Ân cần thủ tự tương;
Vân Anh như hữu ý;
Thân vị đảo nguyên sương”.
Bài thơ này lấy sự tích Bùi Hàng thi rớt, về qua Lam Kiều vào quán uống nước, thấy nàng Vân Anh đẹp quá, muốn hỏi làm vợ. Bà mẹ nàng thách cưới một cái chày bằng ngọc, hễ có đem đến thì bà gả con gái cho. Bùi Hàng tìm tòi mua được chày ngọc đem lại, bà cụ dùng chày ấy giã thuốc tiên đơn cho chàng với Vân Anh cùng uống, cả hai cùng thành tiên. (ĐTN).


Chàng tin chắc có tin lành, chẳng dè cụ ngồi nói những chuyện đâu đâu, không đả động chi tới chuyện đó, Phùng nhịn không được hỏi phăng:
- Việc đó ra sao, xin cụ dạy bảo cho tôi được yên lòng.
Tân lão nói:
- Cậu vốn là người xuất sắc, lão đem lòng kính mộ đã lâu, khốn nỗi vì có một cớ riêng chẳng dám hở môi đó thôi.
Chàng gạn hỏi cớ gì? Tân lão đáp:
- Con gái lão cả thảy mười chín đứa mà mười lăm đứa đã có chồng rồi, việc gả bán thế nào là tự bà lão nhà tôi, chứ tôi không dự đến.
Chàng nói:
- Tiểu sinh chỉ xin cầu hôn với cô dắt một thằng nhỏ theo hầu, hồi sáng đi dầm sương đó.
Tân lão làm thinh. Hai người lặng lẽ ngó nhau. Nghe trong buồng có tiếng con gái rầm rì, Phùng hãy còn say, tức quá liền vạch màn xông đại vào nói:
- Cầu lấy làm vợ chẳng được, thì cũng phải để cho thấy tận mặt cho được hả lòng với nào!
Bên trong, nghe cửa động, cùng đứng dậy nhìn sửng sốt. Trong đám, quả có người vận áo đỏ đứng mân mê dải áo, có dáng e lệ. Cả nhà thấy chàng xông vào cùng hoảng hốt kêu lên. Tân lão cả giận sai mấy tên gia nhân lôi cổ chàng ra.
Lúc đó, hơi rượu càng nồng, chàng ngã lăn trong đám cỏ gai, gia nhân liệng theo gạch ngói như mưa, may sao không trúng vào người.
Chàng nằm đó một lúc mới tỉnh, nghe rõ con lừa của mình đương gặm cỏ bên đường, bấy giờ mới gượng dậy cưỡi lừa ra đi chập choạng. Trời tối, lạc đường, đi nhầm vào khe núi, những tiếng beo gầm, vượn hú, làm cho chàng rợn gáy lạnh mình, ngập ngừng nhìn quanh tứ phía, không nhận ra chỗ này là đâu. Xa trông về phía rừng mù mịt, có ánh đèn thấp thoáng khi tỏ khi mờ, chàng nghĩ bụng chỗ đó tất có làng xóm, liền ra roi phóng lừa chạy đến. Nhìn lên thấy cổng cao lớn, chàng cầm roi gõ cửa. Bên trong có tiếng người hỏi: “Ai đó! Nửa đêm tới đây làm chi?” Chàng đáp: “Là kẻ lạc đường xin vào tạm trú”. Người bên trong nói: “Để hỏi chủ nhân đã, sẽ mở”.
Chàng đứng đợi sốt ruột, chợt nghe tiếng then động, cửa mở, một người tớ tráng kiện bước ra, đỡ lấy dây cương, dắt lừa và mời chàng vào.
Nhà cửa trông rất sang trọng, gian giữa thắp sáng trưng. Chàng ngồi giây lát, một người đàn bà ra chào và hỏi họ tên. Chàng nói thật danh tính của mình. Cách sau một khắc, hai ba con thanh y (con hầu mặc áo xanh) nâng đỡ một bà cụ tiến ra và nói: Quận quân ra đó! (Quận quân là danh từ tôn xưng bà mẹ vợ vua, hay các bà quý phái).
Chàng vội đứng lên, sửa soạn nghiêng mình cúi lạy, nhưng bà cụ ngăn lại, bảo chàng cùng ngồi và hỏi:
- Mi có phải cháu nội Phùng Văn Tử đó chăng không?
- Bẩm cụ phải ạ!
- Vậy thì mi là cháu gọi già đây bằng cô mà! Thân già bấy lâu như cảnh chuông câm cành lụn, tuổi tác hồ tàn thành ra cách biệt bà con, chẳng tới lui thăm hỏi chi được.
- Thưa cô, con mồ côi từ nhỏ, những bà con đi về thăm nom ông nội, mười phần con không biết một. Cho nên hồi nào tới giờ chưa được hầu chuyện cô, vậy xin chỉ bảo rõ ràng cho con biết.
- Rồi sau cháu sẽ tự rõ.
Chàng không dám hỏi nữa, ngồi đối diện bà cụ mà óc tơ tưởng ỏ đâu. Bà cụ lại hỏi:
- Đêm khuya, sao cháu lần mò được đến đây?
Chàng muốn thừa dịp khoe mình gan dạ, bèn kể đầu đuôi câu chuyện gặp gỡ trong ngày hôm đó. Bà cụ mỉm cười và nói:
- Thế cũng là một việc hay. Huống chi cháu là danh sĩ, sui gia với đám đó cũng xứng. Nhưng con chồn nhà quê lại dám lên mặt tự cao đến thế kia ư? Cháu đừng lo, để ta gọi nó tới đây.
Chàng vâng dạ cảm ơn lia lịa. Bà cụ day lại hỏi kẻ tả hữu:
- Ta không hay con gái nhà họ Tân, có đứa xinh đẹp như thế à?
- Y có mười chín con gái cả thảy, người nào cũng xinh xắn có vẻ, nhưng không rõ ngài định hỏi cô thứ mấy?
Chàng đáp cô ấy chừng mười lăm tuổi. Nàng áo xanh nói:
- Vậy thì là cô mười bốn đó. Cách ba hôm trước từng đi với mẹ tới đây chúc thọ Quận quân. Quận quân đã quên rồi sao?
Bà cụ cười:
- Hay con bé kết hột sen thành giày cao gót trong chứa bột thơm, ngoài bọc hàng mỏng mà đi, phải không?
- Thưa, phải đó!
- Ừ, con bé ấy biết làm ra vẻ quyến rũ khéo đáo để, nhưng quả thật có yểu điệu, thằng cháu ta thường đoán không sai tí nào.
Đoạn, bà cụ bảo nàng áo xanh:
- Sai thằng nhỏ đi kêu nó tới đây.
Nàng áo xanh dạ rồi đi liền. Một lát trở vào bẩm rằng:
- Cô Tân mười bốn đã đến.
Liền thấy cô mặc áo đỏ bước vào, cúi lạy bà cụ. Bà kéo dậy và nói:
- Mi sắp làm vợ thằng cháu ta, không nên làm lễ như con đòi đứa ở vậy nữa.
Nàng đứng thẳng mình buông tay, bà cụ vuốt ve mái tóc, rờ đôi bông tai của nàng và hỏi:
- Tân mười bốn, lúc này ở nhà có làm công việc gì không, con?
Nàng khe khẽ đáp:
- Bẩm, lúc rảnh con chỉ thêu thùa.
Nói rồi, day mặt trông thấy Phùng sinh, có vẻ thẹn thùng, bối rối. Bà cụ nói:
- Thằng cháu ta đó. Nó dốc lòng cùng con kết duyên sao con lại để nó đi lầm đường, đêm khuya lạc lõng vào khe núi thế này?
Nàng lẳng lặng không nói sao. Bà cụ tiếp:
- Ta sai gọi con tới đây không vì chuyện gì khác hơn là muốn làm mai cho cháu ta đấy thôi.
Nàng vẫn làm thinh.
Bà cụ gọi người nhà sửa soạn quét giường trải nệm để làm lễ thành hôn lập tức. Nàng đỏ mặt nói:
- Xin để cho con về thưa với cha mẹ con đã.
- Ta làm mai cho con, thì có chỗ nào sai sót mà lo chớ?
- Quận quân đã dạy, thể nào cha mẹ con cũng phải vâng lời chớ đâu dám trái. Nhưng mà liều lĩnh như vậy con dù có chết, không dám phụng mạng đâu.
Bà cụ cười:
- Con bé này chí khí rắn rỏi, không thể ép uổng được, thật xứng đáng làm vợ thằng cháu ta.
Nói xong, bà cụ rút lấy một cái bông vàng gài trên đầu nàng, trao cho chàng giữ lấy làm tin, bảo chàng về nhà lựa chọn ngày lành giờ tốt thì làm lễ cưới.
Một mặt sai con hầu đưa cô Tân mười bốn về.
Lúc nghe xa xa có tiếng gà gáy, bà cụ hối gia nhân dắt lừa đến tiễn chàng ra đi.
Chàng đi mấy bước, ngoảnh lại chỉ thấy cây cối um tùm, lau sậy lấp mả mà thôi. Chàng định thần giây lát, mới nhớ ra đó là quan thượng thư họ Tiết. Ông này nguyên là em bà nội chàng, cho nên gọi chàng bằng cháu. Lúc đó chàng tự biết mình đã gặp ma, nhưng không hiểu cô Tân mười bốn là người dính líu thế nào?
Chàng đoái cảnh thở than rồi đi về nhà, thì trong ngoài vắng tanh, hỏi thăm những người ở gần họ nói trong chùa thường thấy chồn tinh xuất hiện. Chàng nghĩ thầm, miễn được vợ đẹp, có phải là chồn cũng không sao.
Đến ngày lành đã định, chàng sai dọn dẹp quét tước trong nhà ngoài ngõ; người nhà thay phiên nhau túc trực chờ đợi. Mãi tới nửa đêm, còn lặng lẽ chẳng thấy động tĩnh gì, chàng đã chán nản thất vọng.
Giây lát, nghe ồn ào ngoài cổng, chàng vội vàng chạy ra xem thì kiệu hoa đã đến giữa sân, hai thể nữ đang đỡ nàng vào ngồi trong nhà; của hồi môn không có gì lạ, chỉ có hai đứa tớ trai khiêng một cái khạp, tục danh là phúc mãn làm bằng đất, có khe để bỏ tiền vào mà không moi ra được, khi nào đầy thì đập bể ra, to lớn như cái lu. Chúng đặt lu đất ấy vào một góc nhà rồi đi ra.
Chàng mừng được vợ đẹp, không ngờ là yêu ma, lấy làm lạ, hỏi nàng rằng:
- Bà lão kia chính là người chết thành ma rồi sao cả nhà nàng kiêng sợ phục tùng quá vậy?
Nàng đáp:
- Quan thượng thư họ Tiết, hiện làm chức Ngũ Do Tuân hoàn sứ, phàm loài chồn quỷ ở quanh miền này mấy trăm dặm, đều phải theo hầu. Vì thế ngài có ít ngày giờ về mả đó.
Chàng không quên ơn mai mối cho mình được vợ, nên hôm sau, thân đến trước mả Tiết thượng thư để tế lễ tạ ơn.
Lúc về, thấy hai thị nữ mặc áo xanh, đem tới một cuộn gấm để mừng, vừa nói vừa đặt trên bàn rồi đi. Chàng kể chuyện lại cho nàng hay. Nàng xem cuộn gấm và nói:
- Đây là vật báu của phu nhân đó!
Sở công tử, con một vị quan cũng ở trong miền, thuở nhỏ là bạn đèn sách với chàng, tình khá thân mật. Nay nghe bạn mới cưới vợ là chồn tinh, công tử sai đem quà tặng, rồi lại đến nhà chàng uống rượu nói chuyện.
Cách mấy bữa sau, công tử gửi thư mời chàng đến nhà mình uống rượu.
Nàng nghe chuyện, nói riêng với chồng:
- Hôm nọ công tử đến đây, em dòm khe cửa, thấy con người ấy mắt vượn trán gồ, không giao du lâu bền, vậy mình đừng đi!
Chàng nghe lời.
Bữa sau, công tử thân đến nhà chàng trách sự lỗi hẹn hôm qua; nhân dịp đưa khoe bài văn mới làm. Chàng phê bình có vẻ giễu cợt, khiến công tử đỏ mặt ra về.
Chàng vừa cười vừa thuật chuyện cho vợ nghe, nàng tái mặt buồn thảm và nói:
- Con người ấy bụng dạ độc ác giống như sài lang, chớ có chòng ghẹo nó mà khốn. Mình không thèm nghe lời em khuyên bảo, đi rước lấy tai vạ ắt đến nay mai.
Chàng cười và xin lỗi vợ. Về sau, chàng gặp lại công tử liền kiếm lời phỉnh phờ làm cho công tử mát ruột, nhờ vậy mà chuyện xích mích trước dần dần tiêu tan.
Vừa gặp có kỳ thi ở dinh đốc học, công tử được chấm đậu số một, lấy làm tự đắc, liền bày tiệc rượu để mời chàng đến.
Chàng cố từ. Công tử viết thư ân cần mời thỉnh mãi, chàng mới chịu đến. Khi đến nơi mới rõ là ngày ăn mừng sinh nhật của công tử, quan khách đầy nhà, cỗ bàn sang trọng. Công tử đưa quyển thi ra khoe khoang, chúng đua nhau tán thưởng.
Rượu được vài tuần, dàn nhạc nổi lên, chủ khách chén tạc chén thù, hết sức vui vẻ. Bỗng dưng công tử nói với chàng:
- Tục ngữ có câu “Trong trường học không luận văn chương hơn kém”, ngày nay mới rõ là câu nói ấy nói sai. Kỳ thi hôm rồi, em đậu trên anh chỉ nhờ có mấy câu khởi luận có ý kiến cao hơn của anh một bực đấy thôi.
Công tử nói đoạn, cử tọa hùa theo khen ngợi, Phùng sinh đang ngà ngà say, không sao nhịn được, cất tiếng cười vang và nói:
- Mãi tới ngày nay, anh mới biết văn chương sa sút tới mức ấy ư?
Nghe chàng nói ai nấy xanh mặt. Công tử vừa thẹn vừa uất, không nói năng gì. Khách khứa lần lượt ra về chàng cũng lẩn đi. Chàng tỉnh hơi men, lấy làm hối hận kể hết chuyện thật cho vợ nghe.
Vợ trách:
- Mình thật là chú xã quê mùa. Phàm lời khinh bạc như thế, nói ra với người quân tử thì cái đức của mình thương tổn, nói ra với đứa tiểu nhân thì cái thân của mình nguy hiểm. Tất vạ sắp đến cho chàng, không còn xa nữa. Em không nỡ trông thấy cảnh chàng khốn đốn lưu lạc, vậy em xin từ giã nhau từ đây.
Phùng sinh lo sợ khóc vùi tỏ ý ăn năn và cố lưu nàng ở lại, nàng nói:
- Nếu mình muốn cho em lưu lại thì phải hứa chắc với em điều này: Từ giờ trở đi, phải đóng cửa đọc sách, tuyệt hết bạn bè, không được bê tha trà rượu nữa.
Chàng xin y lời.
Cô Tân thứ mười bốn vốn có tính siêng năng cần kiệm, hàng ngày chăm chỉ dệt chiếu, thỉnh thoảng có về thăm gia quyến mình, nhưng đi rồi trở về nội ngày, không từng ở cách đêm bao giờ. Nàng lại xuất tiền ra mua bán kiếm lợi, hễ tiền bạc ăn xài mỗi ngày còn dư, đều bỏ vào trong rương tiết kiệm như trên đã nói.
Ngày ngày chàng đóng cửa ngồi nhà đọc sách, bất cứ ai thăm viếng, nàng cũng bảo gia đình ra từ tạ không tiếp.
Hôm sau, công tử gửi thư đến, nàng giấu nhẹm không cho chàng hay.
Lại hôm sau nữa chàng phải vào trong thành điếu tang, gặp công tử ở trong nhà đám. Công tử lôi kéo, nài nỉ; chàng kiếm chuyện từ chối, không đi. Công tử sai bồi ngựa cố vực chàng lên lưng ngựa và nắm dây cương kéo đi bằng được mới thôi.
Về đến nhà, công tử liền sai bày tiệc, chàng uống vài chén rồi đứng dậy kiếu từ, công tử một hai cầm giữ, lại gọi mấy cô hầu ra đàn hát cho vui.
Phùng sinh sẵn tính ngang tàng bấy lâu lại bị giam hãm ở nhà, hơi thấy buồn bực. Nay gặp rượu ngon, gái đẹp, đàn ngọt hát hay, bỗng sinh hào hứng, trong lòng không còn lo nghĩ gì nữa, cứ việc uống cho say mèm đến nỗi nằm lăn bên bàn tiệc.
Vợ công tử, họ Nguyễn hung dữ và cả ghen rất đỗi, bọn hầu thiếp không dám trang điểm son phấn. Ban ngày hôm đó, một con hầu lẻn vào buồng học của công tử. Nguyễn thị bắt được, dùng gậy đánh mãi trên đầu như mưa xối, con hầu bể óc chết liền, xác còn để đó chưa chôn.
Công tử vẫn căm giận Phùng sinh hay chế giễu mình, ngày ngày tìm cách báo thù, bây giờ gặp dịp bèn lập mưu phục rượu cho chàng uống thực say, để vu hãm chàng vào tội gian dâm cố sát.
Sau khi chàng say rượu ngủ vùi, công tử cho khiêng xác con hầu kia đến bên cạnh rồi khép cửa bỏ đi. Chàng say tới canh năm mới tỉnh, bây giờ mới rõ lại mình ngủ trên ghế, liền đứng dậy đi tìm giường nằm để ngủ giấc nữa. Bất đồ có vật gì mềm dịu, cản trở bước chân mình; rờ xem, té là là người. Trong ý chàng suy nghĩ có lẽ chủ nhà cho một tiểu đồng nằm bên để trông nom hầu hạ mình; nhưng chàng lại lay gọi và rờ nắn, thì người đó cứng đờ không cục cựa. Chàng cả sợ chạy vụt ra ngoài cửa, kêu la rầm rĩ.
Tôi tớ trong nhà vùng dậy, thắp đèn soi thấy xác con hầu, liền tóm chặt lấy chàng và hô hoán lên.
Công tử giả đò hốt hoảng chạy tới, trông thấy cơ sự liền vu cho chàng cưỡng gian sát hại con hầu nhà mình, hô người nhà bắt giải lên Quảng Bình để quan phủ xét xử.
Cách một ngày sau, cô Tân mười bốn mới biết câu chuyện là thế, khóc và nói:
- Từ trước ta đã tiên liệu có ngày hôm nay mà.
Sau đó mỗi ngày nàng gửi tiền bạc và thức ăn vào ngục cho chàng.
Trước mặt quan phủ, chàng không có lý lẽ gì có thể giãi bày nỗi oan của mình, cho nên sớm chiều bị tra khảo, đánh đập, đến tuột da, nát thịt, mình mẩy không còn chỗ nào nguyên lành.
Nàng vào tận trong ngục hỏi thăm. Chàng trông thấy vợ đau đớn nghẹn ngào không thể nói ra.
Nàng biết chồng đã ngã xuống giếng sâu, bèn khuyên chàng đành phải nhận tội, cho khỏi bị tra tấn khổ thân. Chàng khóc lóc và xin nghe lời.
Chốn lao ngục canh gác nghiêm mật, mà nàng lui tới ra vào cách nhau gang tấc chẳng ai ngó thấy.
Hôm đó nàng đi thăm chồng trở về, buồn rầu than thở, đuổi hết tôi tớ ra ngoài, một mình đóng cửa ở trong nhà luôn mấy ngày để nghĩ mưu tính kế.
Sau đó mấy hôm, nàng cậy mụ mối, đi mua hộ nàng một người con gái lương gia, tên là Lộc nhi, tuổi vừa đôi tám, nhan sắc khá đẹp.
Nàng cùng Lộc nhi ăn cùng mâm, nằm cùng chiếu, yêu mến nâng niu, khác hẳn mọi người trong nhà.
Nói về Phùng sinh nghe lời nàng khuyên bảo, đành chịu nhận tội, quan phủ chiếu luật ngộ sát kết án thắt cổ, tên lão bộc hay tin khóc lóc thảm thiết, hộc tốc chạy về nhà báo tin cho nàng hay, mà nói không ra tiếng.
Nàng nghe với vẻ mặt thản nhiên dường như không thèm để ý.
Thấm thoắt đã đến kỳ sửa soạn đem xử những tù phạm tử hình, bấy giờ nàng mới bồn chồn rối rít, ngày đi đêm về, không lúc nào yên nghỉ. Những lúc vắng vẻ thì ngồi than khóc một mình, đến nỗi bỏ ăn quên ngủ.
Một hôm trời nhá nhem tối, con hồ tì (tức là con chồn thị nữ, lúc nàng còn ở trong mộ Tiết phu nhân rất yêu thương thắm thiết) xăng xái đến nhà, nàng vội vàng đứng lên dắt nó ra chỗ vắng nói chuyện thầm thì một lúc. Rồi thấy nàng tươi cười vui vẻ, trông nom cắt đặt việc nhà bình tĩnh như ngày thường.
Hôm sau tên lão bộc đến ngục thăm, chàng gửi lời từ biệt nương tử vợ chồng vĩnh quyết nhau từ đây. Lão bộc về nhà thuật lại, nàng gật đầu qua loa mà nét mặt không thấy có chút đau thương buồn bã khi nghe chồng sắp bị hành hình. Trái lại, nàng lạnh lùng như tuồng không thèm để ý đến chuyện đó vậy.
Gia nhân bàn riêng lén với nhau, cho nàng là người vô tình và quá nhẫn tâm. Bỗng nghe đường sá tuyên truyền tin tức quan Sở ngân dài (quan chánh án họ Sở, tức là cha ruột công tử) đã bị cách chức; quan án Bình Dương vừa mới phụng chỉ xét lại vụ án Phùng Sinh.
Lão bộc nghe tin, hớn hở chạy về báo với bà chủ.
Nàng cũng vui mừng, lập tức sai lão bộc vào ngục thăm dò, thì chàng đã được thả ra khỏi ngục thất. Thầy trò gặp nhau, xiết bao mừng mừng tủi tủi. Giây lát thấy lính áp giải công tử đến dinh; quan án tra hỏi, công tử liền thú hết thực tình vụ án. Vì đó, Phùng sinh được quan tha ngay và cho về nhà.
Chàng về đến nhà, vừa trông thấy vợ, bất giác bưng mặt khóc ròng, nàng cũng khóc theo. Chàng khóc chán rồi mừng hớn hở, nhưng không hiểu vì sao vụ án của mình động tới tai hoàng đế, mà khỏi bị chết oan.
Nàng trỏ con hồ tì và nói;
- Cứu tinh của chàng là con chồn nhỏ này đây.
Chàng kinh ngạc gạn hỏi mãi, nàng mới kể lại tự sự cho nghe.
Nguyên là hôm trước, nàng sai con hồ tì biến mình đến tận Yên Kinh, muốn vào trong cung cấm để kêu hộ chàng. Nhưng cung cấm có thần canh giữ, nó không vào lọt, phải lang thang quanh quẩn ở bên hồ ngự của nhà vua luôn mấy tháng không tài nào đến gần thiên tử mà tâu bày oan khúc.
Nó sợ dây dưa hỏng việc, tính trở về bàn mưu định kế với nàng, bỗng dưng nghe tin Thiên tử sắp ngự giá đi chơi Đại Đồng, nó liền tới trước giả làm một con hát dạo, ở chốn hồng lâu. Thiên tử ngự vào đó chơi, thấy nó sắc đẹp hát hay rất mực yêu chuộng.
Ngài tỏ ý ngờ nó không phải là hạng người phàm trần sa ngã, bấy giờ nó thừa dịp ôm mặt khóc nức nở. Nó liền thưa rằng, quê quán ở tận Quảng Bình, con gái Phùng mỗ, vì cha bị vu oan và bị kết án tử hình, cho nên nó bị bán vào chốn hồng lâu, thành ra lưu lạc đến đây.
Thiên tử nghe qua, vẻ mặt sầu thảm, ban cho một trăm lượng vàng trước khi ra đi, lại hỏi cặn kẽ đầu đuôi vụ án, lấy giấy bút ghi chép tên họ. Sau rốt ngài tỏ ý muốn rước nó về cung, để chung hưởng phú quý. Nó tâu rằng, chỉ muốn cha con đoàn tụ là vui, chứ không dám mong hưởng giàu sang gì cả. Thiên tử gật đầu ban lời khen ngợi yên ủi rồi mới đi.
Con hồ ly thuật lại câu chuyện rõ ràng thêm cho chàng nghe. Chàng lật đật vái lạy tạ ơn, hai hàng lệ nhỏ ròng ròng.
Vợ chồng sum họp không được bao lâu, một hôm, nàng nói với chàng:
- Em không vì tình duyên ràng buộc với chàng thì đâu có chịu lấy cảnh phiền não lâu này. Lúc mình bị bắt giam trong ngục, em ở ngoài bôn tẩu quanh nhà họ hàng thân thuộc, chớ hề có ai đoái hoài bày luôn cho một mưu kế gì. Vì đó nay em chán đời phàm tục; em đã vì mình kén chọn người vợ hiền, còn em thì từ đây xin cùng chàng từ biệt.
Chàng nghe, lăn nhào mà khóc, nàng mới nể lòng ở lại không đi.
Đêm hôm, nàng sai Lộc nhi đến nằm với chàng. Chàng nhất định từ chối.
Sáng hôm sau, tự nhiên thấy nàng kém hẳn dung nhan. Hơn một tháng nữa thì da nhăn má hóp, gần như mụ già. Cách nửa năm lại đen thui và lọm khọm chả khác gì bà lão nhà quê. Tuy nhiên, chàng vẫn một lòng kính mến, không hề suy suyển.
Bấy giờ nàng lại nằng nặc đòi đi, nói rằng: “Nay chàng đã có vợ đẹp kia rồi, còn giữ con mụ già nua xấu xí này làm chi?”
Chàng khóc lóc cầm giữ như trước.
Cách một tháng sau bỗng nàng phát bệnh nguy cấp, bỏ cả ăn uống, chỉ nằm rũ liệt trong buồng. Chàng hầu hạ thuốc men, như đối với cha mẹ. Rước thầy pháp bà đồng về nhà, cúng lễ cũng vô hiệu; nàng tê liệt rồi chết. Chàng đau thương quá, chết giấc mấy phen. Nhờ có số vàng của con hồ tì được vua ban cho ngày trước, chàng làm lễ chôn cất long trọng.
Đám xong mấy hôm, con hồ tì cũng đi nốt.
Chàng bèn lấy Lộc nhi làm vợ, một năm sau, Lộc nhi sinh hạ một lúc hai đứa con trai. Nhưng chàng đi thi khoa nào cũng rớt, mà cảnh nhà ngày càng sa sút nghèo nàn. Vợ chồng không có cách gì mưu sinh, chỉ ngồi nhìn nhau buồn rầu than thở.
Bỗng chàng nhớ lại cái lu để trong góc nhà, sinh thời cô Tân mười bốn thường hay ném tiền vào đó, chẳng biết có còn không? Chàng đến gần xem, thì vò tương chĩnh mắm bày la liệt bên trên, phải dời từng món đi mới đến cái lu, cầm đũa khoắng vào trong nhưng đũa không vào được. Bấy giờ đập lu tan vỡ, thì tiền bạc tuôn ra đầy nhà.
Nhờ đó, chàng đương nghèo lại trở nên no đủ sung sướng.
Về sau, người lão bộc có dịp đi qua núi Thái Hoa, thấy cô Tân mười bốn cưỡi ngựa đi trước, con hồ tì cưỡi lừa theo sau. Nàng trẻ và đẹp, y như hồi nào, ân cần thăm hỏi Phùng lang có bình yên không. Lại căn dặn lão bộc về nói cho ông chủ biết rằng: Ta đã thành tiên rồi.
Lão bộc vừa nghe dứt lời thì nàng biến mất, không thấy gì nữa.

Đào Trinh Nhất dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,486
Posts: 13695
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 16 Aug 2022

Một đêm lấy ma (Công Tôn cửu nương)


Vụ án Vu Thất dậy giặc, làm người ta bị vạ lây mà chết, nhiều nhất là người ở hai huyện Thê Hà, Lai Dương. Có ngày bị bắt mấy trăm người, điều ra trường tập võ chém tất, máu đào lênh láng, xương trắng ngổn ngang. Quan trên động lòng từ bi, giúp tiền mua hòm; các tiệm đồ gỗ ở Thê Thành, đóng hòm tới đâu, bán sạch tới đó. Những người bị xử tử, phần nhiều chôn vùi ở Nam Giao.
Khoảng năm Giáp Dần, có người học trò người huyện Lai Dương, có việc đến phủ Tế Nam chơi; vì chàng có hai ba bạn thân cũng ở trong đám bị chém, nên nhân dịp, mua vàng hương đi viếng mộ bạn, rồi thuê một căn phòng trong chùa, ở trọ.
Sáng hôm sau, vào trong thành có công việc mãi đến trời xế chưa về.
Bỗng có một thiếu niên đến buồng trọ của chàng thăm viếng, nhưng thấy chàng đi khỏi, liền bỏ mũ leo lên giường, chân để nguyên giày mà nằm ngửa mặt. Tên đầy tớ chàng hỏi là ai, khách nhắm mắt làm thinh không trả lời.
Đến lúc chàng về thì trời đã nhá nhem tối, nhìn mặt người không rõ, đến bên giường hỏi khách; khách trừng mắt nói:
- Ta đã bảo rằng đến viếng ông chủ mi, sao cứ phải hạch hỏi lôi thôi mãi, bộ ta ăn cướp ăn trộm gì ư?
Chàng cười nói:
- Chủ nhân chính là tôi đây.
Thiếu niên vùng dậy, đội mũ mặc áo mà ngồi, vồn vã hỏi thăm. Chàng nghe tiếng nói như người quen, liền hô thắp đèn cho sáng, nhìn mặt hóa ra Châu sinh, người đồng hương chết vì tai nạn Vu Thất. Chàng sợ hãi khiếp vía, toan chạy. Châu sinh níu lại và nói:
- Tôi với anh là bạn văn chương, sao lại vô tình với nhau thế? Bây giờ tôi đã chết thành quỷ, nhưng cái tình bạn cũ vẫn còn canh cánh bên lòng. Nay có một chuyện đến làm rầy anh, xin chớ coi nhau là dị vật mà ra chiều bạc bẽo.
Chàng mạnh dạn ngồi xuống, hỏi muốn chuyện gì, Châu sinh nói:
- Người cháu gái của anh hiện còn ở góa chưa lấy ai; tôi cần một người nội trợ đôi ba phen cậy mối đến dạm hỏi, nhưng cô ta khăng khăng từ chối, lấy cớ không có mạng lệnh bề trên cho phép. Vậy xin anh, anh nghĩ tình bạn cũ, tán thành cuộc nhân duyên này giùm tôi.
Nguyên trước chàng có đứa cháu gái, kêu chàng bằng cậu, từ nhỏ mồ côi mẹ nên chàng đem về nuôi nấng, 15 tuổi mới trở về với cha. Nó bị bắt giải tới Tế Nam, nghe tin cha vừa bị tử hình, thương xót quá đỗi, kêu thét lên mà đứt hơi chết luôn. Nay Châu sinh muốn cưới người cháu gái đó về làm vợ. Nhưng chàng lưỡng lự, nói:
- Ủa! Con bé đó thì nó có cha nó làm chủ, sao anh phải cầu đến tôi?
Châu sinh đáp:
- Ông thân sinh cô ta đã được thằng cháu lấy xương cốt đi cải táng chỗ khác cho nên hiện thời không có mặt ở đây.
- Vậy thì con bé ở với ai?
- Cô ta sống chung với mụ hàng xóm.
- Nhưng tôi là người, làm sao mối lái cho ma được?
- Được, hễ anh bằng lòng thì xin theo tôi.
Châu sinh đứng dậy, nắm tay chàng kéo đi. Chàng cố từ chối và hỏi đi đâu.
Châu nói:
- Cứ việc đi với tôi, sẽ thấy.
Chàng phải miễn cưỡng ra đi. Châu dẫn đi về hướng bắc độ một dặm, thấy một xóm làng to, chừng mấy trăm nóc nhà. Đến căn nhà thứ nhất, Châu gõ cửa, tức thời có mụ già chạy ra mở cả hai cánh cửa, hỏi Châu muốn hỏi ai?
Châu nói:
- Bà làm ơn nói giùm cô ở trong nhà rằng có ông cậu của cô đến đây.
Mụ trở vào giây lát, ra mời chàng vào, day lại nói với Châu sinh:
- Nhà tôi chật quá, phiền công tử đứng đợi bên ngoài một lát nhé.
Một mình chàng theo gót mụ vào, thấy nửa mẫu sân rêu, hai túp nhà nhỏ. Cháu gái đứng trước cửa rước cậu, vừa chào, vừa khóc sụt sịt. Trong nhà đèn thắp li ti, sắc mặt cháu vẫn xinh xắn như lúc còn sống. Nàng gạt nước mắt hỏi thăm cô chú ở nhà làm ăn có mạnh giỏi không?
Chàng đáp:
- Mạnh giỏi tất cả. Duy chỉ có mợ của cháu tức là vợ chàng thì đã qua đời rồi.
Nàng lại khóc nức nở và nói:
- Hồi bé, cháu nhờ cậu mợ nuôi nấng dạy bảo, công đức ấy cháu chưa đền đáp được một chút nào thì không may đã chết trước, nghĩ thật ân hận trong lòng. Năm nọ người anh con nhà bác đã dời xương cốt cha cháu đi nơi khác chứ không nghĩ đến cháu, thành ra ngoài mấy trăm dặm, chiếc thân bơ vơ côi cút như chim én lạc đàn. Nhờ cậu có lòng đoái tưởng đến, lại đốt vàng mã cho, cháu đã nhận được rồi.
Sau hết, chàng nói chuyện với Châu sinh cầu hôn, nàng cúi mặt làm thinh, mụ già đứng lên đỡ lời:
- Ấy, hôm trước Châu công tử cậy bà cụ Dương đến dạm hỏi năm ba phen, già bảo là việc rất nên, nhưng cô em không chịu lấy chồng một cách gần như lén lút, nay có ông cậu đến chủ hôn cho, thì thật là danh chính ngôn thuận.
Mụ đang nói thì một cô mười bảy, mười tám tuổi, có con tớ gái theo hầu, ở đâu phăng phăng bước vào, trông thấy chàng liền day mình toan chạy. Nàng nắm chéo áo lại và nói:
- Chị đừng ngại. Đây là ông cậu ruột tôi, không phải ai lạ.
Chàng vái chào, thiếu nữ bẽn lẽn đáp lễ. Người cháu gái giới thiệu:
- Cô này là Cửu nương, họ Công Tôn ở huyện Thế Hà. Ông thân cô là con nhà dòng dõi, nhưng nay cũng bị sa sút, cô không thích chơi với ai, sớm tối chỉ đánh bạn với cháu.
Chàng liếc thấy vẻ người tươi tắn, bẽn lẽn mà tuyệt đẹp, gật đầu khen ngợi.
- Phải, trông người đủ biết là đại gia, chứ lều tranh vách đất làm gì có sắc mỹ miều đến thế.
Cháu cười và nói:
- Đã đẹp lại là nữ sĩ nữa, cậu ạ! Thơ phú làm hay đáo để, cô thường dạy bảo cháu luôn.
Cửu nương mỉm cười:
- Con nhỏ này khi không bêu riếu người ta làm cho ông cậu cười chết!
Cháu cũng cười, nói tiếp:
- Mợ cháu qua đời, mà cậu cháu chưa lấy ai. Cậu xem cô này có vừa lòng không?
Cửu nương cười thẹn vừa chạy vừa nói:
- Ranh con phát khùng nói nhảm rồi đó.
Nói đoạn đi thẳng.
Lời nói tuy gần như đùa bỡn, nhưng chàng nghe lấy làm thích ý. Cháu dòm thấy ý cậu bèn nói:
- Tài mạo Cửu nương thiên hạ không ai sánh kịp. Nếu cậu không chê là dị loại, thì cháu xin nói giùm với bà mẹ cô ta.
Chàng bằng lòng lắm, nhưng sợ người với ma làm sao kết thành vợ chồng được, cháu biện bạch:
- Không hề gì đâu, cậu ạ! Cậu với cô ta vốn có lương duyên túc đế với nhau.
Chàng từ biệt ra về, cháu tiễn chân và nói:
- Năm bữa nữa, trăng thanh người vắng sẽ có người đến rước.
Chàng ra ngoài cửa, không thấy Châu sinh đâu cả, nghển cổ nhìn về hướng tây, bóng trăng lờ mờ, còn nhận ra đường cũ mà đi, thấy một tòa nhà ở mé nam. Châu ngồi trên bệ đá ngoài cửa, lật đật đứng dậy đón chào:
- Tôi ngồi đợi anh đã lâu. Đây là nhà tôi, mời anh quá bộ vào chơi.
Nói đoạn dắt tay chàng vào, ân cần cảm tạ, rồi đưa ra một cái chén vàng, trăm hột ngọc châu, và nói:
- Thưa anh, tôi xin nộp mấy vật mọn này để làm lễ cưới.
Kế đó nói tiếp ngay:
- Nhà tôi có rượu đây, nhưng nó là vật dưới âm ty, không muốn đem mời khách quý, xin anh lượng cho.
Chàng xin cáo thoái, Châu tiễn ra đến cửa đường mới trở lui.
Về chùa, nhà sư và người tùy tùng xúm hỏi, chàng giấu giếm và nói:
- Bảo tôi gặp ma, ấy là nói xàm. Vừa rồi tôi đến nhà bạn nhậu chơi đó thôi.
Sau năm hôm, quả thấy Châu đến, gương mặt rất vui vẻ, mới vào tới sân đã chào hỏi, cười nói:
- Việc vui mừng của anh đã xếp đặt xong rồi, động phòng ngay trong đêm nay.
Đoạn, ngồi lại đợi chàng sửa soạn cùng đi. Chàng tỏ vẻ sửng sốt:
- Quái lạ, tôi vì chưa nhận được hồi âm, cho nên chưa nộp lễ cheo cưới gì cả, sao anh lại bảo việc xong rồi?
Châu nói:
- Tôi đã thay mặt anh mà nạp đâu đó yên cả rồi.
Chàng hết sức cảm tạ, rồi theo Châu đi tới nhà.
Châu vào thẳng trong buồng, thấy cô cháu gái y phục sang trọng, chờ đón rước cậu. Chàng nói:
- Cưới nhau hồi nào?
Châu trả lời:
- Đã ba hôm nay.
Chàng đưa ngay số hột ngọc của bạn tặng riêng cho hôm trước, cho cô cháu gái để thêm vào của hồi môn. Cô từ chối đôi ba lần rồi mới chịu lãnh, rồi kể chuyện lại cho cậu nghe:
- Cháu đem ý muốn của cậu, bày tỏ với Công Tôn lão phu nhân; bà bằng lòng lắm, nhưng chỉ lấy cớ mình tuổi tác già nua, mà đường con gái hiếm hoi, ngoài Cửu nương không có cốt nhục nào khác cho nên không muốn gả nàng đi lấy chồng xa. Phu nhân hẹn đêm nay cậu đến ở gửi rể tại nhà. Nhà không có ai là đàn ông, vậy để nhà cháu dẫn cậu đi.
Châu liền dẫn chàng đi, tới cuối xóm, thấy một nhà mở cửa sẵn sàng. Hai người vào trong nhà, ngồi giây lát thì gia nhân báo tin lão phu nhân đến. Hai nàng thanh y nâng đỡ bà cụ bước lên thềm nhà, chàng muốn lạy chào, nhưng bà cụ gạt đi:
- Tôi già yếu lọm khọm đáp lễ không đặng, vậy xin khước đi nhé.
Nói rồi, truyền thanh y bày tiệc rượu mừng. Châu cũng gọi gia nhân đem cỗ bàn riêng ở nhà mình lại và một hồ rượu riêng, để chuốc chén mừng chàng. Trong tiệc ăn uống không khác trần gian, duy có chủ nhân tự uống tự ăn, chứ không vồn vã mời khách. Tiệc tan, Châu ra về.
Thanh y dẫn đường cho chàng vào nhà trong, Cửu nương diện sang, ngồi bên đuốc hoa đợi sẵn. Trai tài gái sắc, cá nước duyên ưa, cuộc gặp gỡ nhau vui sướng thế nào, không cần phải nói ra.
Nguyên lúc trước, mẹ con Cửu nương bị bắt, người ta định giải về kinh đô, nhưng khi đến quận Tế Nam thì bà mẹ chết vì không chịu nổi cực khổ, Cửu nương cũng tự vẫn chết theo mẹ. Nay cùng tân lang đầu gối tay ấp kể chuyện thân thế đã qua mà thổn thức không tài nào ngủ được, bèn khẩu chiếm hai bài thơ tứ tuyệt:

I
Áo lụa hồi xưa hóa bụi trần,
Luống đem nghiệp chướng trách tiền thân,
Mười năm bóng chiếc sương khuya lạnh
Gác tía đêm nay mới thấy xuân.

II
Nấm mồ côi cút, gió mưa vây
Ai ngỡ dương đài lại hóa mây?
Chợt nhớ rương xưa xem vật cũ
Quần là vấy máu hãy còn đây.


Trời gần sáng, nàng hối thúc chồng:
- Mình nên về sớm đi chớ để bọn tôi tớ bàn tán khó chịu.
Từ đó ngày tới đêm đi lại ái tình hết sức gắn bó. Một đêm chàng hỏi vợ:
- Làng này tên là chi?
- Tên là Lai Hà Lý, nàng đáp. - Trong làng phần nhiều là ma mới, vốn người hai huyện Lai Dương, Thế Hà, cho nên thành tên.
Chàng nghe bùi ngùi khôn xiết, nàng cũng bi cảm nói:
- Cô hồn bơ vơ, ngàn dặm trôi nổi, tình cảm hai mẹ con tôi, nói ra đau lòng xót ruột. Nếu chàng nghĩ đến ân nghĩa một đêm, thì lấy cốt em mà táng bên mộ ông bà để cho em có chỗ nương tựa muôn đời không còn ân hận gì nữa.
Chàng nhận lời, nàng lại nói:
- Âm dương cách trở, người quỷ khác nhau, mình cũng không nên bịn rịn ở chốn này lâu.
Nói rồi đưa tặng chàng cái khăn lụa để làm kỷ niệm và gạt lệ giục chàng lên đường. Chàng rầu rĩ ra đi, trong lòng còn thương tiếc không đành, bèn tiện đường gõ cửa nhà họ Châu.
Châu chạy chân không ra đón, vợ cũng trỗi dậy, đầu tóc rũ rượi, thấy cậu nửa đêm đến nhà mình, có ý sửng sốt, hỏi gạn căn do. Chàng ngẩn người giây lát, mới thuật lại lời nói của Cửu nương. Châu nói:
- Mợ cháu không nói với cậu thì cháu cũng định nói, vì mấy hôm nay cháu suy nghĩ đêm ngày đã tính đến việc đó. Chốn này không phải trần gian, thật tình cậu chẳng nên ở lâu.
Hai cậu cháu ngó nhau trào nước mắt. Một lúc chàng mới gạt lụy, từ biệt lên đường.
Trở về gõ cửa nhà trọ nằm trằn trọc tới sáng.
Thức dậy, muốn đi tìm mộ Cửu nương ngay, nhưng lại quên hỏi dấu tích thì biết mộ nàng ở đâu mà tìm. Mong cho mau tới đêm tối lại đi nhưng mồ mả lố nhố ngổn ngang, không đường vào xóm cũ đành thở dài bỏ về.
Chàng nhớ chiếc khăn nàng tặng, lấy ra xem, gặp gió thổi rách tả tơi, nát như tro tàn.
Thầy trò sửa soạn hành lý trở về quê quán, luôn nửa năm trời bứt rứt trong tâm, không sao chịu nổi, lại cưỡi ngựa đến trước cửa thành Tế Nam, may ra gặp được nàng chăng? Khi đến Giao Nam, trời đã chạng vạng, liền buộc ngựa gốc cây trước sân, rồi lần mò vào bãi tha ma.
Nhưng chỉ thấy mồ con mả lớn, gai góc um tùm, lập lòe lửa ma. Tê lòng sởn óc, đành bóp bụng về chỗ trọ, rồi ngày hôm sau rầu rĩ lên đường hồi hương.
Đi chừng một dặm, xa trông thấy một thiếu nữ đi thơ thẩn một mình trong đám mồ mả, nhìn cách ăn mặc đi đứng thật giống Cửu nương. Chàng ra roi tế ngựa đến gần xem, chính là Cửu nương, vội vàng xuống ngựa để nói chuyện với nàng. Nhưng nàng bỏ chạy, làm như không từng quen biết. Chàng lại muốn tới gần nữa, thì nàng nhăn mặt trừng mắt, tỏ vẻ giận dữ, đưa tay áo lên che mặt. Chàng kêu Cửu nương mấy tiếng, nàng biến đâu mất.

Đào Trinh Nhất dịch

Image
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,486
Posts: 13695
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 17 Aug 2022

Vương Thành


Vương Thành, con nhà thế tộc lâu đời ở Bình Nguyên(1), tính lười biếng, sinh nhai ngày càng sa sút, chỉ còn mấy gian nhà nát; vợ chồng đêm nằm đắp mảnh vải bố, họ hàng chê bai trách móc thậm tệ. Bấy giờ là tiết đại thử, khí trời nung nấu. Trong làng có cái vườn cũ của họ Chu, tường vách đã đổ nát, chỉ còn một cái đình(2), người làng vẫn đến đấy ngủ nhờ, Vương cũng thế. Một hôm trời đã sáng, mọi người đi cả rồi, mặt trời đã cao ba con sào, Vương mới dậy, quanh quẩn muốn về, chợt thấy trong đám cỏ có chiếc thoa vàng, nhặt lên xem, thấy có khắc mấy chữ nhỏ “Phủ Nghi tân chế tạo”. Ông nội của Vương là Nghi tân trong phủ Hành(3). Những vật cũ trong nhà phần nhiều đều có dấu hiệu ấy, nên chàng nhân cầm chiếc thoa có dáng chần chừ. Bỗng một bà cụ đến tìm thoa. Vương tuy nghèo nhưng tính vốn liêm, liền đưa trả lại. Bà cụ mừng lắm, hết sức ngợi khen tấm lòng cao thượng, nói rằng:
- Chiếc thoa có đáng giá là bao, nhưng là chút kỷ vật của ông nhà tôi ngày xưa để lại.

(1) Một huyện thuộc tỉnh Sơn Đông.
(2) Đình: nhà nhỏ, tròn hoặc nhiều góc, để ngồi chơi trong vườn.
(3) Tức Hành cung vương, là hoàng tử con vua Hiền Tông, nhà Minh. Nghi tân là tên chung chỉ con rể của các thân vương.


Hỏi:
- Cụ nhà xưa là ai?
Đáp rằng:
- Đó là quan Nghi tân, họ Vương tên Giản Chi, đã quá cố.
Vương kinh ngạc, nói rằng:
- Ông nội tôi đấy! Sao mà gặp nhau với bà được?
Bà cụ kinh ngạc nói:
- Anh là cháu cụ Vương Giản Chi đó sao? Ta là hồ tiên(1), một trăm năm trước đây, có trao duyên gắn bó với cụ cố nhà anh. Cụ cố mất đi, già nay tu ẩn; đi qua đây đánh rơi chiếc thoa lại vào tay anh, đó chẳng phải là số trời hay sao?

(1) Con hồ tu đạo đã thành tiên.

Vương cũng đã nghe nói ông nội mình có vợ hồ, cho nên tin lời bà cụ, bèn mời bà hạ cố đến nhà. Bà cụ theo về. Vương gọi vợ ra chào: áo rách bù đầu, sắc mặt đói ăn tối sầm. Bà cụ than rằng:
- Ôi! Con cháu Vương Giản Chi mà nghèo khổ đến thế này sao?
Lại nhìn về phía cái bếp không có khói lửa mà nói:
- Gia kế như thế này thì lấy gì mà sống?
Người vợ bèn kể hết nỗi khổ, nghẹn ngào sướt mướt. Bà cụ đưa chiếc thoa cho chị vợ, bảo hãy cầm cho người ta lấy tiền để đong gạo, rồi ba ngày nữa bà sẽ đến thăm. Vương cố giữ lại, bà nói:
- Anh có một vợ mà nuôi không nổi; ta ở lại đây thì chỉ ngồi mà ngắm nóc nhà chứ có ích gì?
Nói xong liền đi. Vương kể lại đầu đuôi, người vợ sợ quá. Vương ngợi khen tấm lòng ân nghĩa của bà cụ và bảo vợ phải thờ bà như mẹ. Người vợ xin vâng.
Qua ba ngày, quả nhiên bà già lại đến, đưa ra mấy đồng vàng để đong lúa và mạch, mỗi thứ một thạch(l). Tối đến, bà cụ và người vợ nằm chung một cái giường bé. Chị vợ lúc đầu còn sợ, nhưng xét thấy tình ý rất mực ân cần, nên cũng không ngờ nữa. Ngày hôm sau, bà cụ bảo Vương rằng:

(1) Thạch: đơn vị đo lường, bằng mười đấu.


- Cháu đừng lười, nên tìm một nghề mọn mà làm, chứ ngồi không mà ăn thì lâu thế nào được?
Vương nói mình không có vốn liếng gì cả. Bà đáp:
- Khi ông nội nhà anh đang còn, thì vàng lụa tha hồ mà lấy, vì ta không phải là người trần, không dùng đến những thứ ấy, nên cũng không lấy nhiều, chỉ dành dụm món tiền phấn sáp được bốn mươi lạng vàng, đến nay vẫn còn, tàng trữ cũng chẳng làm gì. Anh hãy mang đi mà mua vải cát cho hết, rồi mang gấp vào kinh thành, có thể có lãi.
Vương theo lời, đi mua hơn năm mươi tấm mang về. Bà cụ giục thu xếp hành trang, tính rằng sáu, bảy ngày có thể đến Yên Kinh. Dặn rằng:
- Chớ lười, nên siêng! Chớ hoãn nên kíp! Chậm trễ một ngày ăn năn chẳng kịp(2).

(2) Câu này trong nguyên văn có vần. Chúng tôi mượn lời dịch của Tản Đà.

Vương xin kính vâng, xếp hàng vào tay nải rồi lên đường.
Giữa đường đi gặp mưa, áo giày ướt sũng. Suốt đời Vương chưa từng dầu dãi gió sương, vì vậy mệt rũ, bèn vào nhà trọ tạm nghỉ. Ngờ đâu mưa cứ tầm tã mãi đến chiều hôm, nước trên rèm chảy xuống như thừng. Qua một đêm, đường càng lầy lội, người đi ngập đến cổ chân.
Vương trong lòng nản lắm. Chờ mãi đến giờ ngọ, đường mới hơi khô, nhưng mây đen lại kéo lên, rồi trời lại mưa to. Phải ngủ hai đêm ở nhà trọ mới đi được.
Gần đến kinh, nghe đồn giá vải lên cao vọt, trong lòng mừng thầm. Vào kinh, nghỉ ở quán trọ. Chủ quán lấy làm tiếc là Vương đến chậm. Trước đó đường giao thông với phía Nam vừa mới được mở, vải cát đến rất ít, các nhà buôn lớn ở kinh đô mua khá nhiều, giá cao gấp ba so với thường ngày, nhưng một ngày trước thì hàng vải ùn đến, giá bỗng xuống rất thấp, những người đến sau đều thất vọng. Chủ quán nói rõ đầu đuôi cho Vương biết, Vương ưu uất không vui. Một ngày qua, vải cát đến càng nhiều, giá càng xuống, Vương cho là không lãi, không chịu bán. Nấn ná đến hơn mười ngày, tiền cơm tính ra đã tốn nhiều, nghĩ càng thêm lo buồn. Chủ quán khuyên Vương nên bán rẻ đi, để xoay cách khác. Vương nghe theo bán tháo hết, lỗ vốn mười lượng. Sáng dậy, soạn sửa ra về, mở đẫy ra xem thì bạc đã mất rồi. Hoảng lên báo với chủ quán. Chủ quán không biết làm thế nào. Có kẻ bảo Vương lên kêu quan, bắt chủ quán bồi thường. Vương than rằng:
- Ấy là cái số của ta, chứ chủ nhân có lỗi gì?
Chủ quán nghe nói, rất mến tấm lòng nhân hậu của Vương, tặng năm lạng vàng, kiếm lời an ủi, khuyên về. Vương nghĩ bụng không còn mặt mũi nào gặp lại bà tổ mẫu, loanh quanh hết ra lại vào, tiến thoái đều khó. Chợt thấy có người chọi chim thuần mỗi lần chọi đặt cược đến mấy nghìn, mua mỗi con chim thuần nhiều khi hơn một trăm đồng tiền chưa đắt. Chàng bỗng nảy ra một ý, tính nhẩm tiền còn trong đãy, may ra chỉ đủ buôn chim thuần, bèn đem cái ý này bàn với chủ nhân. Chủ quán khuyến khích tận tình, lại hứa cho ở trọ, ăn uống không phải trả tiền. Vương mừng lắm, bèn ra đi, mua đầy một gánh chim thuần đem về trong thành. Chủ quán cũng mừng, chúc cho bán được nhanh. Đến đêm, mưa to mãi đến mờ sáng. Khi trời đã sáng hẳn, nước trên đường cái như sông, mà trời vẫn rả rích mưa. Ngồi chờ tạnh, liên miên mấy ngày, mưa không ngớt hột. Dậy nhìn chim thuần trong lồng thì đã chết mất nhiều. Vương sợ lắm, không biết làm thế nào. Sáng ngày sau, chết càng nhiều, chỉ còn được mấy con, đem bỏ chung vào một lồng để nuôi. Qua đêm, lại ra thăm thì vẻn vẹn còn được một con, bèn chạy vào nói với chủ quán, bất giác ứa nước mắt, chủ quán cũng rất cảm thương. Vương tự liệu, tiền hết không về được, chỉ muốn tìm đường chết. Chủ quán khuyên giải an ủi, rồi cùng nhau ra xem con chim còn lại, ngắm nghía rất kỹ, nói rằng:
- Đây hình như là một con chim quý! Những con kia mà chết biết đâu không phải là bị con này chọi chết? Anh bây giờ cũng rỗi, không có việc gì, hãy chăm nuôi tập tành cho nó. Nếu quả là con chim hay, thì mang nó đi đánh cược cũng mưu sinh được.
Vương nghe theo. Khi con chim đã thuần thục, chủ quán bảo đem ra đường phố, đánh cược lấy rượu thịt. Chim khỏe lắm, luôn luôn thắng. Chủ quán mừng, đưa tiền cho Vương, bảo đem ra quyết ăn thua với đám con em trong làng chơi chim thuần. Ba lần chọi ba lần đều thắng. Chừng nửa năm, góp nhóp được hai mươi lạng vàng, trong lòng cũng được an ủi, xem con chim như tính mệnh của mình.
Trước đó có một vị thân vương rất thích chim thuần; mỗi năm gặp tiết thượng nguyên, thách dân gian có ai nuôi chim thuần thì đem đến phủ để chọi. Chủ quán nhân bảo Vương rằng:
- Giờ đây, cái cơ đại phú đã có thể đến ngay rồi đấy. Chỉ có điều không biết số của anh như thế nào thôi!
Bèn nói rõ sự tình và đem Vương cùng đi, dặn rằng:
- Ví thử có thua thì nín hơi mà đi ra thôi! Còn như vạn nhất con thuần mình đấu thắng thì thân vương thế nào cũng hỏi mua, anh đừng nhận bán, nếu gạn hỏi thì cứ nhìn vào cái đầu của tôi, chờ khi nào đầu tôi gật thì hẵng ngã giá!
Vương nói:
- Được!
Vào đến phủ thì thấy những người chọi chim sát vai nhau đứng cả ở dưới thềm. Chốc lát thân vương ngự ra trên điện, tả hữu truyền rằng có ai muốn chọi thì cho lên. Liền có một người xách lồng bước từng bậc mà lên trên điện. Thân vương sai thả thuần ra. Khách cũng thả. Mới nhảy đá qua loa, con chim của khách đã thua chạy. Thân vương cả cười. Chỉ một lúc, người lên chọi mà thua đã có đến mấy vị. Chủ quán liền nói:
- Đến lúc rồi!
Bèn cùng nhau bước từng bậc mà lên. Thân vương xem tướng con chim của Vương mà nói:
- Tròng mắt có vằn máu giận dữ, cũng là một cánh hung kiện đây! Không nên khinh địch.
Bèn truyền lệnh cho đem con “mỏ sắt” ra nghênh chiến. Mới nhảy vọt đấu đá vài lần mà con chim của thân vương đã sả cánh. Lại chọn một con chim giỏi hơn đem ra, hai lần đổi, hai lần thua. Thân vương cấp tốc truyền lệnh cho vào lấy con “ngọc thuần” của nội cung. Một lát mới thấy đem ra, lông trắng như cò, thần khí hùng dũng khác thường. Vương Thành thấy thế, trong lòng nao núng, bèn quỳ xuống xin thôi, nói rằng:
- Con chim của điện hạ là chim thần, sợ đánh chết mất chim của tôi thì tôi sạt nghiệp mất!
Thân vương cười rằng:
- Thì cứ thả ra cho nó chọi, chẳng may nó chết thì ta sẽ đền bù cho thật hậu!
Thành bèn thả chim mình ra. Con ngọc thuần xông thẳng đến. Nhưng khi con ngọc thuần đang chạy tới thì con thuần của Vương nằm phục xuống như con gà dữ để đợi. Con ngọc thuần mổ vào nó thật mạnh, nó liền nhảy phắt lên như con hạc bay liệng để đánh lại. Khi tiến, khi lui, khi trên, khi dưới, cầm cự với nhau áng chừng một khắc, thì con ngọc thuần lơi dần, mà con thuần của chàng giận càng sôi, đánh đá càng gấp. Chẳng mấy chốc bộ lông tuyết của ngọc thuần rụng xơ ra, rồi sã hai cánh chạy trốn. Một nghìn người đứng xem, không ai là không tấm tắc khen ngợi. Vị thân vương bèn bảo bắt nó lên, thân hành cầm lấy xem xét một lượt từ đầu mỏ đến móng chân, rồi hỏi Thành rằng:
- Con chim này, anh có bán không?
Đáp:
- Tiện dân nghèo khó, phải nhờ vào nó mà sống, không dám bán.
Thân vương nói:
- Ta trả giá cao, anh sẽ có một gia sự bậc trung, có bằng lòng không?
Thành cúi đầu suy nghĩ giây lâu mới nói:
- Thật quả không muốn để lại; nhưng nay điện hạ đã đoái thương đến nó, khiến cho tiện dân có ăn có mặc, thì còn đòi gì hơn.
Image


Thân vương hỏi giá, Thành xin nghìn lạng vàng. Thân vương cười rằng:
- Cái anh ngốc này, nào có phải châu ngọc gì mà giá nghìn vàng?
Vương nói:
- Điện hạ không cho nó làm báu, nhưng đối với hạ thần thì ngọc bích liên thành cũng chẳng bằng vậy!
Thân vương hỏi:
- Thế nào?
Đáp:
- Tiện dân đem nó ra chợ, mỗi ngày được vài đồng, đổi thưng đấu gạo, một nhà mười miệng ăn, nhờ đó mà không đến nỗi đói rét, còn của báu nào bằng?
Thân vương nói:
- Tôi không để anh thiệt đâu, thôi trả anh hai trăm đồng. Thành lắc đầu; lại trả thêm một trăm. Thành đưa mắt nhìn chủ quán. Chủ quán không động đậy. Thành bèn nói:
- Thừa mệnh điện hạ, xin bớt một trăm.
Thân vương nói:
- Thế thì thôi vậy, ai đời lại đem chín trăm lạng đổi lấy một con chim thuần bao giờ?
Thành xách lồng chim lên định đi thì thân vương gọi:
- Này này anh chọi chim, lại đây! lại đây! Tôi dứt khoát trả anh sáu trăm đồng. Bằng lòng thì để, không bằng lòng thì thôi vậy!
Thành lại đưa mắt về phía chủ quán. Chủ quán vẫn điềm nhiên. Ý nguyện của Thành đã hoàn toàn thỏa mãn, chỉ sợ nhỡ mất thời cơ, bèn nói:
- Với cái giá của điện hạ, thật không được hài lòng, nhưng y ước với nhau mà lại không xong, sợ mắc lỗi lớn, cực chẳng đã, xin y theo mệnh lệnh của điện hạ.
Thân vương mừng rỡ, cho người cân vàng đưa ngay, Thành nhận vàng, lạy tạ mà đi ra. Chủ quán giận, trách rằng:
- Tôi bảo thế nào mà anh đã vội vã bán đi như thế? Nếu néo thêm một chút nữa thì đã có tám trăm cầm tay rồi!
Thành về nhà trọ, đặt vàng lên án mời chủ quán tự lấy. Chủ quán không chịu, Thành ép mãi mới đem bàn tính ra, tính toán đủ tiền phí tổn ăn uống mà nhận.
Thành xếp đặt hành lý ra về. Đến nhà, thuật lại những việc đã làm, bỏ vàng ra cùng mừng với nhau. Bà cụ bảo tậu ba trăm mẫu ruộng tốt, dựng nhà cửa, sắm đồ đạc, nghiễm nhiên là một thế gia. Bà cụ dậy sớm, đôn đốc cho Thành trông nom việc cày bừa, vợ trông nom việc canh cửi, hơi lơ là thì quát tháo, mà vợ chồng vẫn êm đẹp với bà, không hề oán thán. Qua ba năm, nhà càng giàu, bà cụ ngỏ ý muốn đi, vợ chồng cô giữ lại, đến chảy nước mắt. Bà bèn ở lại. Sáng ngày vào hầu, thì đã mất hút.

Cao Xuân Huy dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,486
Posts: 13695
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 17 Aug 2022

Anh Ninh


Vương Từ Phục, người La Điếm, huyện Cử(1), sớm mồ côi cha, thông tuệ rất mực, mười bốn tuổi đã vào học nhà phán. Mẹ hết đỗi cưng yêu, bình thường không cho đi chơi ra ngoài đồng ruộng. Đã hỏi con gái họ Tiêu, chưa cưới thì nàng mất. Vì thế việc nhân duyên vẫn chưa thành.

(1) Một huyện thuộc tỉnh Sơn Đông.

Gặp tiết thượng nguyên, có người con nhà cậu là chàng Ngô đến rủ đi chơi. Vừa ra đến đầu xóm thì có đầy tớ nhà cậu sang gọi Ngô về. Chàng thấy con gái đi chơi lũ lượt như mây, hứng lên cũng một mình ngao du.
Có một cô gái dắt con hầu đi theo, tay cầm một cành hoa mai, nhan sắc tuyệt vời, nụ cười xinh tưởng có thể vốc được. Chàng nhìn đăm đăm đến nỗi quên cả giữ gìn ý tứ. Cô gái đi vượt lên mấy bước, quay sang nói với con hầu:
- Người đâu mà mắt chòng chọc như giặc.
Rồi bỏ cành hoa xuống đất, cười nói mà đi. Chàng nhặt cành hoa, buồn thiu, hồn phách xiêu lạc đâu mất, lầm lũi quay về.
Đến nhà, đặt hoa dưới gối, gối đầu lên mà ngủ, không nói cũng không ăn. Mẹ đâm lo, đi cầu cúng thì bệnh càng nặng, da thịt gầy tóp. Thầy thuốc thăm bệnh, cắt cho thang phát tán, nhưng chàng cứ hốt hoảng như người mê. Mẹ dỗ dành hỏi nguyên do, chàng lặng thinh không đáp.
Vừa lúc chàng Ngô đến, bà dặn nhỏ chàng dò hỏi xem sao. Ngô vào trước giường; vừa nhìn thấy, chàng đã chảy nước mắt. Ngô ghé sát bên giường an ủi, lân la gặng hỏi. Chàng bèn thổ lộ tình thực, lại nhờ lo toan hộ. Ngô cười đáp:
- Anh cũng lại ngố rồi! Ước muốn đó thì khó gì mà chẳng toại! Để đấy tôi hỏi giùm cho. Cuốc bộ ở giữa đồng, thì hẳn không phải là con nhà thế gia. Nếu chưa có đám nào thì việc xong là cái chắc. Bằng không, cứ vứt nhiều tiền ra thì toan tính gì cũng phải thành. Chỉ cần anh thuyên giảm, xong việc là ở tôi.
Chàng nghe vậy bất giác nở nụ cười. Ngô trở ra bảo với bà mẹ để ý dò tìm làng ở của cô gái; song thăm hỏi đã cùng khắp vẫn không dò ra tung tích. Mẹ lo lắm, chẳng biết tính toán cách nào. Nhưng từ sau khi Ngô về rồi thì sắc mặt con tự nhiên tươi tỉnh, ăn uống đã có phần khá hơn.
Mấy hôm sau, Ngô trở lại. Chàng hỏi đã lo giúp đến đâu. Ngô vờ vịt nói:
- Xong rồi! Cứ tưởng người nào, hóa ra là con gái bà cô tôi, tức là vào hàng em con nhà dì với anh đấy. Hiện vẫn còn đợi gả chồng. Dẫu họ hàng về đằng mẹ kết thông gia không tiện, nhưng cứ tình thực mà nói thì cũng chẳng có gì không xuôi.
Chàng mừng, rạng rỡ cả mày mặt, hỏi Ngô:
- Thế ở làng nào?
Ngô nói thác ra rằng:
- Ở trong núi, về phía Tây nam, cách đây ngoài ba mươi dặm.
Chàng lại dặn dò nhờ cậy đến năm lần bảy lượt. Ngô cũng sốt sắng tự xin đảm nhận, rồi lui gót. Từ đấy chàng ăn uống ngày một khá hơn, sức khỏe dần dần bình phục. Lật gối lên xem, hoa tuy khô nhưng vẫn chưa rụng. Mải mê cầm ngắm, tưởng như còn thấy được người.
Mãi sau lấy làm lạ sao Ngô không đến, bèn viết giấy mời, thì Ngô kiếm cớ chối từ không chịu đến. Chàng tức giận, buồn bã không vui. Mẹ lo bệnh con lại tái phát, vội bàn chuyện hôn nhân, nhưng mới trao đổi sơ qua, đã lắc đầu không chịu, chỉ ngày ngày ngóng đợi chàng Ngô. Cuối cùng tin tức về Ngô cũng bặt luôn, chàng càng thêm ức. Rồi bỗng lân la nghĩ rằng ba mươi dặm cũng chẳng lấy gì làm xa, hà tất phải ỷ lại vào người khác. Bèn giấu cành mai vào tay áo, tức mình cất bước ra đi, mà người nhà chẳng một ai hay.
Lủi thủi cuốc bộ một mình, không có ai để hỏi đường, chỉ nhắm hướng núi Nam đi tới. Được chừng hơn ba mươi dặm, thấy núi mọc ngổn ngang, lô nhô chồng chất; xanh rợp tầng không mát rượi da thịt; vắng vẻ tịch mịch không một bóng người, chỉ có đường chim bay. Xa xa trông xuống dưới khe núi, trong chỗ cây cối um tùm, hoa nở từng đám dày, thấp thoáng như có một xóm nhỏ. Xuống núi, vào trong xóm, thấy nhà cửa thưa thớt, toàn là nhà tranh, mà xem chừng lại rất thanh nhã. Một ngôi nhà hướng Bắc, trước cửa buông đều tơ liễu, trong tường đào hạnh lại càng sum suê, chen lẫn với những khóm trúc vươn dài; chim rừng kêu lách chách ở trong. Chàng cho là nơi vườn cảnh của ai, không dám đường đột bước vào. Quay nhìn về phía đối diện với cánh đồng, thấy có hòn đá lớn trơn nhẵn, bèn ngồi lên đó tạm nghỉ. Giây lát nghe phía trong tường có tiếng một người con gái dài giọng gọi:
“Tiểu Vinh”, tiếng nghe êm ái, nhỏ nhẹ. Đang chăm chú lắng nghe, thấy một cô gái từ phía Đông rảo sang phía Tây, tay cầm đóa hoa hạnh, cúi đầu cài lên mái tóc; vừa ngẩng đầu lên trông thấy chàng liền không cài nữa, mỉm cười cầm đóa hoa đi vào. Nhìn kỹ lại thì đúng là người mình đã gặp trên đường hôm đi chơi tiết thượng nguyên. Trong lòng mừng cuống lên, chỉ nghĩ không lấy cớ gì mà vào được, muốn gọi bằng “cô em con dì”, lại e từ thuở nào đến giờ không hề đi lại, nhỡ ra có lầm lẫn chăng.
Trong cửa không có một ai để hỏi, đành quẩn quanh hết ngồi lại đứng từ sớm đến tận trưa, đăm đăm trông ngóng, quên cả đói khát. Thỉnh thoảng cô gái hé nửa mặt nhòm, tựa hồ lấy làm lạ sao mình vẫn không đi. Bỗng có một bà già chống gậy đi ra, hướng vào chàng mà hỏi:
- Chàng trai ở đâu, nghe như từ giờ thìn(1) đã đến đây, ở mãi cho đến bây giờ. Ý giả cần gì? Không đói hay sao?

(1) Giờ thìn bắt đầu từ sáng sớm.

Chàng vội đứng dậy vái chào, đáp rằng:
- Định tìm thăm người bà con.
Bà cụ nghễnh ngãng nghe không rõ. Chàng lại nói to lên. Bèn hỏi:
- Vậy chứ quý vị thân thích họ gì?
Chàng không sao trả lời được. Bà cười bảo:
- Kỳ chưa! Đến họ tên còn không biết thì biết bà con thế nào để mà thăm? Tôi xem bộ chàng cũng chỉ là tay “cuồng chữ” mà thôi. Chi bằng hãy theo tôi vào đây, lót lòng lưng cơm giã đói; nhà có chiếc giường con ngả lưng cũng được. Đợi sáng mai về hỏi lại cho biết họ gì, rồi đến tìm thăm cũng chưa muộn.
Chàng đang lúc bụng đói muốn ăn, lại được vào đó lân la gần gũi người đẹp, thì mừng quá, bèn theo bà già đi vào. Thấy trong cổng, lối đi lát toàn đá trắng, sát hai bên đường, hoa hồng từng cánh từng cánh rụng trên thềm. Quanh co đi về phía Tây, lại mở ra một cửa ngăn nữa, phên giậu giàn hoa lan đầy giữa sân. Nghiêm trang dẫn khách vào nhà, tường phấn sáng rỡ như lồng kính; ngoài song, những cành hoa hải đường thò vào cả trong nhà; đệm chiếu, ghế, giường, không một thứ gì không bóng lộn, sạch sẽ.
Vừa ngồi xuống đã thấy có bóng người từ ngoài cửa sổ thấp thoáng nhòm trộm. Bà cụ gọi:
- Tiểu Vinh! Khá làm cơm mau!
Bên ngoài có tiếng dạ to của con hầu.
Ngồi đâu đấy rồi bèn tỏ bày dòng dõi. Bà già hỏi:
- Ông ngoại của cậu chẳng biết có phải họ Ngô không?
Đáp:
- Thưa phải.
Bà cụ kinh ngạc nói:
- Thế thì cậu là cháu của ta. Mẹ cậu là em gái ta. Mấy năm nay vì gia cảnh bần hàn, lại không có chút con trai, nên việc thăm hỏi mới để thưa bẵng đi. Cháu đã khôn lớn thế này rồi mà vẫn không biết nhau.
Chàng đáp:
- Lần này cháu đến đây là để thăm dì, mà trong khi vội vàng thành ra quên mất cả họ.
Bà cụ đáp:
- Già đây lấy về họ Tần(1), không sinh nở bận nào cả.

(1) Nguyên văn là “già đây họ Tần”, nhưng Tần là họ chồng bà cụ. nên chúng tôi dịch thoát.

Chỉ có một mụn con gái, cũng là con vợ lẽ sinh ra. Mẹ nó đi bước nữa, để nó lại cho ta nuôi nấng. Kể cũng chẳng đến nỗi đần, chỉ hiềm ít được dạy dỗ, nên cứ cười đùa suốt, chẳng biết buồn lo gì cả. Lát nữa sẽ bảo ra chào anh cho biết.
Chẳng mấy lúc, con hầu đã dọn cơm lên; có món gà tơ đang độ béo. Bà cụ ngồi tiếp chàng; cơm xong rồi con hầu lại đến dọn đi. Bà bảo:
- Gọi cô Ninh ra đây!
Con hầu vâng lời đi vào. Lúc lâu, nghe như ngoài cửa có tiếng cười, bà cụ lại gọi:
- Anh Ninh! Người anh con dì mày đây này.
Ngoài cửa tiếng cười khúc khích vẫn không ngừng. Con hầu đẩy cô gái ra, vẫn còn che miệng cười không nín được. Bà già trừng mắt bảo:
- Nhà đương có khách, mà cứ khúc kha khúc khích, là cung cách gì thế?
Cô gái nhịn cười đứng yên. Chàng vái chào. Bà cụ nói:
- Đây là anh Vương, anh con dì của mày. Người trong một nhà mà không biết nhau, thế mới đáng cười chứ!
Chàng hỏi:
- Em đây năm nay bao nhiêu tuổi?
Bà già chưa kịp hiểu. Chàng bèn nhắc lại. Cô gái lại rũ ra cười không ngẩng lên nhìn ai được nữa. Bà cụ bảo chàng:
- Tôi vừa nói nó ít được dạy dỗ, bây giờ thì thấy rồi đây. Tuổi đã mười sáu mà vẫn ngây dại như trẻ con.
Chàng đáp:
- Kém thua cháu một tuổi.
Bà nói:
- Cháu đã mười bảy rồi, thế chẳng hóa ra là tuổi Canh Ngọ, cầm tinh con ngựa ư?
Chàng gật đầu thừa nhận. Lại hỏi:
- Thế vợ cháu là ai?
Đáp rằng:
- Vẫn “không” ạ!
Bà bảo:
- Tài mạo như cháu, sao mười bảy tuổi rồi mà chưa cưới vợ? Con Anh Ninh cũng chửa thành gia thất, kể sánh với nhau thật xứng đôi, chỉ hiềm có chút quan hệ họ hàng đằng mẹ.
Chàng không đáp, mắt nhìn dán vào Anh Ninh không rời đi đâu một chớp. Con hầu quay sang cô gái nói nhỏ rằng:
- Con mắt chòng chọc như giặc vẫn chưa đổi.
Nàng lại cười to, ngoảnh lại bảo con hầu:
- Ta đi xem bích đào nở chưa đi!
Rồi vụt đứng ngay dậy, lấy tay áo che miệng, rón rén bước nhanh ra khỏi cửa, rồi tiếng cười mới phá lên. Bà già cũng đứng dậy, gọi con hầu mang chăn chiếu để xếp đặt chỗ nghỉ cho chàng. Bà bảo:
- Cháu một lần đến không phải dễ, hẵng ở chơi dăm ba bữa, thư thả rồi sẽ tiễn cháu về. Nếu hiềm vì vắng vẻ buồn chán thì sau nhà có mảnh vườn con, cũng đủ làm nơi tiêu khiển; có cả sách nữa, cháu có thể đọc.
Hôm sau, chàng ra phía sau nhà, quả có thửa vườn rộng chừng nửa mẫu, cỏ mịn như trải thảm, hoa dương liễu rắc lấm tấm đầy lối đi. Ba gian nhà cỏ, cây và hoa vây phủ bốn chung quanh. Đang luồn trong hoa nhích từng bước, chợt nghe trên cây có tiếng khanh khách, ngẩng lên nhìn thì ra Anh Ninh đang ở trên ngọn, thấy chàng đến cười rồ lên muốn ngã. Chàng nói:
- Đừng thế, ngã đấy!

Image


Nàng vừa tụt xuống vừa cười, không sao nhịn được. Gần đến đất, tuột tay ngã, tiếng cười mới tắt. Chàng đỡ dậy, ngầm chạm vào cổ tay, lại rũ ra cười, phải dựa vào thân cây, không sao bước được nữa, một lúc lâu mới hết. Chờ cho ngớt cơn cười, chàng mới rút cành hoa trong tay áo ra cho xem. Cô gái cầm lấy nói:
- Khô rồi, còn giữ làm gì?
Đáp:
- Đây là hoa em bỏ lại hôm tiết thượng nguyên, nên mới giữ.
Hỏi:
- Giữ thế là có ý gì?
Đáp:
- Để tỏ rằng yêu nhau không quên được. Kể từ hôm tiết thượng nguyên, được gặp gỡ, cứ tơ tưởng đến thành bệnh. Những tưởng phận mình đã ra ma rồi, nào ngờ lại còn được thấy mặt. Xin hãy rủ lòng thương xót.
Cô gái đáp:
- Đấy là việc quá nhỏ mọn. Chỗ họ thân nào có tiếc gì. Đợi hôm nào anh đi, các thứ hoa trong vườn, sẽ gọi lão bộc đến, bẻ hẳn một ôm lớn đội theo tiễn anh.
Chàng nói:
- Em ngây đấy ư?
- Thế nào là ngây?
Đáp:
- Anh chẳng phải yêu hoa, mà yêu người cầm hoa cơ.
Nàng nói:
- Tình thân họ hàng, yêu nhau còn phải nói gì?
Chàng đáp:
- Anh nói yêu, chẳng phải là cái tình yêu họ hàng dây mơ rễ má, mà là tình yêu vợ chồng kia!
Cô gái nói:
- Có gì khác nhau sao?
Đáp:
- Đêm thì cùng chung chăn chung gối.
Cô gái cúi đầu nghĩ ngợi giây lâu, nói:
- Em không quen ngủ với người lạ(1).

(1) Nguyên văn “sinh nhân”, vừa có nghĩa người lạ, vừa có nghĩa người sống, ở đây có ngầm cả nghĩa thứ hai, vì cô gái đang sống với ma.

Nói chưa dứt lời, con hầu đã rón rén đi đến. Chàng hoảng sợ, vội lẩn đi. Lát sau, cùng họp mặt ở chỗ bà mẹ. Mẹ hỏi đi đâu, cô gái đáp rằng ở trong vườn trò chuyện.
Bà cụ bảo:
- Cơm chín đã lâu, có gì dài lời mà con cà con kê mãi thế?
Nàng đáp:
- Anh cả muốn con ngủ chung.
Nói chưa hết câu chàng đã cuống cả lên, vội đưa mắt lườm. Nàng mỉm cười ngừng ngay lại. May bà già không nghe rõ, còn phải lẵng nhẵng hỏi lại.
Chàng vội đem chuyện khác lấp liếm đi. Nhân đó khẽ rỉ tai trách riêng nàng. Cô gái hỏi:
- Thế chuyện ấy không nên nói à?
Chàng đáp:
- Đó là chuyện phải giấu người khác.
Nàng bảo:
- Giấu người khác chứ giấu mẹ già sao được, vả lại ngủ đâu là chuyện thường, việc gì phải kiêng không nói.
Chàng bực vì nỗi “ngố”, không cách gì làm sao hiểu ra được.
Ăn vừa xong thì gia nhân dắt hai con lừa đến tìm chàng. Số là, bà mẹ đợi lâu không thấy con về, sinh nghi, cho tìm kiếm hầu khắp mọi chỗ trong làng, cũng không thấy tăm hơi gì cả, bèn đến hỏi Ngô. Ngô nhớ ra lời mình nói trước đây, liền bảo đến xóm núi Tây nam mà tìm. Đi lần qua hết mấy thôn mới đến được đây. Chàng ra cửa thì vừa gặp nhau, bèn trở vào thưa với bà già, lại xin được dẫn cô gái cùng về. Bà cụ mừng nói:
- Ta vẫn muốn thế từ lâu rồi, hiềm vì tấm thân già yếu không thể đi xa được. Nay được cháu dẫn em nó về, để nhận dì, thì tốt quá.
Bèn gọi Anh Ninh. Ninh cười, bước ra. Bà nói:
- Có gì vui mà cười hoài không ngớt thế? Giá không cười thì cũng được là người toàn vẹn rồi đấy.
Bà nhân đấy lừ mắt giận dữ, rồi bảo:
- Anh cả muốn đi cùng với mày, hãy vào sắm sửa hành trang đi!
Lại dọn cơm rượu thết đãi người gia nhân, rồi mới tiễn ra cửa, nói:
- Nhà dì ruộng nương dư dật, đủ sức nuôi người ăn dưng. Đến đấy hãy khoan về, cố học lấy chút thi lễ, cũng biết đường thờ phụng bố mẹ chồng, rồi sẽ cậy bà dì kiếm cho mày một tấm chồng xứng đáng.
Hai người bèn khởi hành. Đến vạt núi trũng, quay lại nhìn, còn lờ mờ thấy bà cụ tựa cửa trông về hướng Bắc.
Về tới nhà, mẹ nhìn thấy có cô gái xinh đẹp, kinh ngạc hỏi là ai. Chàng đáp là con bà dì. Mẹ nói:
- Những điều anh Ngô nói với con dạo trước là nói dối đấy. Mẹ chưa từng có chị, sao lại có cháu con dì được?
Hỏi cô gái, nàng đáp:
- Tôi không phải là do mẹ đẻ ra. Bố vốn họ Tần, lúc mất, con còn nằm trong tã, nên không thể nhớ được gì.
Bà mẹ nói:
- Ta có một người chị lấy chồng họ Tần thật, nhưng mất đã lâu, làm sao lại còn được?
Nhân hỏi kỹ những dấu vết trên mặt, nốt ruồi, cục bướu, nhất nhất đều phù hợp.
Lại ngờ ngợ mà nói:
- Phải đấy! Nhưng chết đã bao năm nay rồi, làm gì mà còn được đến giờ?
Giữa lúc đang ngẫm nghĩ, nghi hoặc thì chàng Ngô đến, cô gái lánh vào nhà trong. Ngô hỏi biết duyên cớ, ngẩn ra một lúc lâu, rồi chợt hỏi:
- Cô gái này có phải tên là Anh Ninh không?
Chàng bảo phải. Ngô vội nói ngay là chuyện lạ lùng.
Hỏi vì sao mà biết, Ngô đáp:
- Từ sau khi cô Tần mất, dượng ấy ở góa, bị hồ ám, mang bệnh mỏi mòn mà chết. Hồ sinh một gái tên là Anh Ninh, vẫn quấn tã đặt giữa giường, gia nhân đều trông thấy cả. Dượng mất rồi, hồ thỉnh thoảng còn tới, sau xin bùa của thiên sư(1) dán lên vách, hồ mới ôm con gái bỏ đi. Chẳng lẽ lại là đấy chăng?

(1) Thiên sư: danh hiệu của Nguyên phong cho con cháu Trương Đạo Lãng là ông tổ Đạo giáo, nối đời làm nghề phù thủy ở núi Long Hồ Giang Tây. Ở đây thiên sư có nghĩa là thầy phù thủy.

Bên nào bên ấy cùng góp ý phân giải mối ngờ. Chỉ nghe buồng trong vẳng ra những tiếng khúc khích, đều là tiếng cười của Anh Ninh. Bà mẹ bảo:
- Con bé này cũng ngớ ngẩn quá thế!
Ngô xin cho xem mặt. Mẹ vào nhà trong, nàng còn rũ ra cười không ngoái lại. Mẹ giục bảo ra, mới cố sức nhịn cười, lại phải ngoảnh mặt vào vách mất một lúc mới ra được. Vừa vái chào xong đã xoay mình trở vào rất lẹ, rồi buông tiếng cười to. Đàn bà con gái đầy nhà, ai cũng đều cười vui theo nàng.
Ngô xin đi dò xét sự lạ, tiện thể sẽ làm mối luôn. Tìm đến xóm nọ, nhà cửa đều chẳng thấy đâu, chỉ có hoa rừng rơi rụng mà thôi. Ngô nhớ lại nơi chôn bà cô, phảng phất đâu đây không xa lắm, nhưng phần mộ đã mai một, chẳng ai có thể nhìn nhận tách bạch được, đành thở than mà quay về.
Bà mẹ ngờ cô gái là ma. Vào buồng thuật lại những lời Ngô vừa nói, nàng không mảy may tỏ ý sợ hãi. Lại xót cho nàng không có nhà cửa gì, cũng không thể có ý buồn rầu, cứ rúc rích cười hoài mà thôi. Mọi người không ai hiểu ra sao cả.
Mẹ bảo cùng ngủ với người con gái bé; sáng tinh mơ đã đến vấn an. Giữ việc nữ công, tinh xảo không ai bì. Chỉ phải tật hay cười, cấm cũng không được. Song nét cười rất tươi, dẫu cười đến phát rồ cũng không giảm vẻ yểu điệu, ai thấy cũng vui thích. Đàn bà con gái láng giềng thường tranh nhau mời đón nàng.
Mẹ đã chọn ngày tốt để cho làm lễ hợp cẩn, mà vẫn cứ sợ là ma; bèn rình lúc nàng đứng dưới bóng mặt trời nhòm xem, thì hình bóng không có gì khác lạ. Đến ngày đã định, bảo nàng trang sức đẹp đẽ để làm lễ cô dâu. Cô gái cười quá, không thể cúi xuống ngẩng lên được, đành phải thôi.
Chàng thấy vợ ngây dại, sợ nàng mang những chuyện kín trong phòng riêng tiết lộ ra ngoài, nhưng cô gái lại hết sức kín đáo, một câu cũng không nói.
Mỗi khi mẹ có điều lo giận, nàng dâu đến, chỉ cười một tiếng là lập tức nguôi hết. Đầy tớ, con hầu có lỗi nhỏ, sợ bị roi vọt, liền cầu xin nàng đến nói chuyện với mẹ; nhờ thế chúng đến chịu tội thường được tha. Mà nàng yêu hoa thành nghiện, vẫn tìm kiếm khắp trong thân thích xóm làng, lại phải cầm trộm cả thoa vàng đi, để mua cho được giống hoa đẹp; mới có vài tháng mà thềm hè, bờ giậu, chuồng lợn hố tiêu, không chỗ nào không có hoa.
Sân sau có một giàn mộc hương, vốn ăn liền với nhà láng giềng phía Tây. Nàng vẫn thường vin cây trèo lên, hái hoa cài đầu chơi. Mẹ thỉnh thoảng bắt gặp lại mắng, mà nàng rốt cuộc vẫn không chừa. Một hôm, con trai nhà phía Tây trông thấy, ngây ra nhìn, lòng dường điên đảo. Cô gái không tránh mặt mà lại cười. Con trai nhà phía Tây nghĩ rằng ý nàng đã thuận, bụng càng khao khát. Nàng chỉ tay vào chân tường, rồi cười mà trèo xuống. Con trai nhà phía Tây cho là nàng chỉ nơi hò hẹn, sướng quá thể. Đến tối mò ra, nàng đã ở đấy thật. Xán đến hành dâm, thì chỗ kín như có mũi dùi đâm, đau buốt đến tận tim, kêu rú lên mà ngã vật ra. Nhìn kỹ lại thì chẳng phải cô gái, chỉ là một cây khô nằm ở bên tường, chỗ mình chọc vào là một cái hốc rịn nước. Ông bố nhà láng giềng nghe tiếng con kêu, vội chạy ra hỏi xem, chỉ rên rỉ không nói. Vợ đến mới chịu nói thực. Đốt đuốc soi vào hốc cây, thấy trong hốc có một con bò cạp lớn như con cua con. Ông bố bổ cây ra, bắt giết đi, rồi vực con về, nửa đêm thì chết.
Nhà láng giềng đâm đơn kiện chàng, cáo giác Anh Ninh là yêu quái. Quan huyện vốn ngưỡng mộ tài học của chàng, lại biết chàng là một học trò trau dồi đức hạnh, cho rằng nhà láng giềng kiện xằng, toan nọc ra đánh. Chàng xin cho, mới được phóng thích mà về. Bà mẹ bảo nàng rằng:
- Cứ ngây dại như thế mãi, từ sớm đã biết “vui quá hóa lo” mà. May được quan huyện sáng suốt như thần nên mới không liên lụy, chứ nếu gặp phải hạng quan hồ đồ hẳn đã bắt đàn bà con gái đến chất vấn ở công đường, thì con ta còn mặt mũi nào nhìn thấy họ hàng làng xóm nữa?
Cô gái bèn nghiêm sắc mặt lại, thề từ nay không cười nữa. Mẹ bảo:
- Người ta ai mà không cười, nhưng cười cũng phải có lúc.
Thế mà từ đấy nàng không cười nữa thật, dù cố trêu, vẫn không bao giờ cười, nhưng suốt ngày chưa hề lúc nào có vẻ mặt đăm chiêu.
Một đêm, nàng nhìn chàng ứa nước mắt. Chàng lấy làm lạ, thì nàng nghẹn ngào nói:
- Trước đây, vì gần gũi chưa lâu, nói ra sợ cho là quái gở mà đâm hoảng. Nay xét ra, mẹ và chàng đều quá yêu, không có bụng gì khác, đành xin thưa thực, may không hại gì chăng? Thiếp vốn do hồ sinh ra. Lúc mẹ thiếp sắp bỏ đi, đem thiếp gửi cho bà mẹ ma, nương nhờ nhau đã hơn mười năm mới có ngày nay. Thiếp lại không có anh em, chỉ trông cậy vào một mình chàng. Mẹ già nằm cô quạnh nơi góc núi, không ai thương xót mà hợp táng cho, dưới chín suối vẫn còn tủi hận. Nếu chàng không tiếc chút phí tổn vô ích, khiến cho người nằm dưới đất tiêu tan được khối hận đó thì ngõ hầu những kẻ nuôi con gái về sau không còn nỡ đem con dìm nước hay vứt bỏ đi nữa(1).

(1) Ở Trung Quốc thời xưa, người phụ nữ bị lễ giáo và tập tục coi rẻ nên người nghèo đẻ con gái thường vứt đi không nuôi, vì cực khổ trăm đường mà lớn lên lại không nhờ cậy được gì.

Chàng nhận lời, nhưng lo phần mộ đã bị lẫn giữa cỏ rậm. Cô gái chỉ nói rằng không lo. Bèn định ngày, vợ chồng xe quan tài đem đi. Giữa đám mây khói hoang vu, gai góc chằng chịt, cô gái chỉ đúng phần mộ, quả đào được thi thể bà già, da thịt vẫn còn. Nàng vỗ về khóc lóc thảm thiết. Rồi cùng đưa về, tìm mộ người chồng họ Tần mà hợp táng.
Đêm hôm đó chàng nằm mơ thấy bà già trở về tạ ơn. Tỉnh dậy, thuật lại với nàng. Nàng đáp:
- Hồi đêm thiếp có trông thấy, chỉ dặn đừng làm chàng kinh động mà thôi.
Chàng ân hận không giữ bà cụ lại chơi. Nàng đáp:
- Bà ấy là ma, nơi có người sống nhiều, khí dương thịnh, ở lâu sao được?
Chàng hỏi đến Tiểu Vinh, đáp:
- Nó cũng là hồ, rất linh lợi, mẹ hồ thiếp giữ lại để trông nom thiếp, thường vẫn đưa bánh cho thiếp ăn, nên nhớ ơn nó không bao giờ quên. Đêm qua hỏi mẹ, thì nói đã gả chồng cho nó rồi.
Từ đó hàng năm, gặp ngày hàn thực(1) vợ chồng lại đi thăm mộ ông bà Tần, khấn vái quét dọn, không năm nào bỏ sót.

(1) Một ngày lể thời cổ, diễn ra trước tiết thanh minh hai ngày; trong ngày lễ này người ta chỉ ăn đồ nguội, kiêng thổi lửa. Thanh minh là ngày tảo mộ; ở đấy bà cụ họ Tần có ơn nuôi nấng Anh Ninh nên hai vợ chồng đi tảo mộ trước tiết thanh minh hai ngày.

Được hơn một năm, cô gái sinh một con trai, lúc còn bé ẵm đã không sợ người lạ, thấy người là cười, đại để cũng giống như phong thái của mẹ.

Nguyễn Huệ Chí dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,486
Posts: 13695
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 17 Aug 2022

Cô Bảo (A Bảo)


Tôn Tử Sở người Việt Tây(1) là một danh sĩ, sinh ra có một ngón tay chẽ, lại có tính vẩn vơ, lẩn thẩn, ai nói dối điều gì cũng tin là thật, hoặc khi gặp một đám tiệc mà có ca nhi kỹ nữ thì từ xa nhác thấy đã bỏ chạy. Có người thấy vậy, dụ chàng đến nhà, cho kỹ nữ đến ôm ấp để bỡn chàng chơi thì mặt đỏ đến tận cổ, mồ hôi chảy xuống thành giọt. Họ nhân đó cười với nhau, rồi xa gần chuyền nhau vẽ vời cái trạng mạo ngây ngô của chàng để làm một trò cười, lại đặt cho chàng cái tên là “Tôn Si”.

1 Một tên gọi khác của tỉnh Quảng Tây.


Trong ấp có nhà buôn lớn là ông nọ, giàu lướt cả vương hầu, thông gia họ mạc đều là dòng dõi quý phái. Ông cụ có một con gái tên là A Bảo, là người tuyệt sắc. Đến tuổi kén duyên, con cái các nhà đại gia tranh nhau đưa sính lễ đến dạm, nhưng không ai vừa ý ông cả. Chàng Tôn bấy giờ góa vợ, có người đùa khuyên nên cậy mối đến hỏi. Chàng không biết phận, quả nhiên nghe theo lời khuyên. Ông cụ vốn biết tiếng chàng nhưng chê nghèo. Khi mụ mối vừa ở chỗ ông đi ra thì gặp A Bảo, hỏi đi đâu, mụ nói thật. Cô gái nói bỡn rằng:
- Nếu chàng ta bỏ được ngón tay chẽ đi thì tôi về với chàng ngay.
Mụ về kể lại với chàng. Chàng nói:
- Cái đó khó gì.
Mụ đi rồi, chàng lấy búa chặt ngón tay chẽ, đau thấu ruột, máu phụt ra chảy lênh láng, suýt chết, qua mấy ngày mới dậy được, sang nhà mụ mối chìa tay xem. Mụ thất kinh, chạy sang nói với cô gái. Nàng cũng lấy làm lạ, nhưng lại nói bỡn rằng còn phải bỏ cái ngây đi nữa. Mụ về nói lại, chàng cãi ầm lên, bảo nào tôi có ngây đâu! Nhưng cũng không vạch rõ nỗi oan được. Bèn chuyển sang nghĩ rằng cô nàng Bảo chưa chắc đã đẹp như tiên, sao dám tự đánh giá mình quá cao như vậy? Từ đó chàng nguội hết mộng tưởng trước.
Vừa gặp tiết thanh minh, lệ thường cứ đến ngày ấy phụ nữ đi chơi, những thiếu niên khinh bạc cũng kết thành từng đội đi theo, tha hồ bình phẩm. Mấy người bạn đồng xã đến rủ chàng, bắt đi cho được. Có người lại nói đùa rằng:
- Lại không muốn xem mặt người mình ưng ý hay sao?
Chàng cũng biết hắn bỡn mình, nhưng vì đã bị cô gái hợm hĩnh, nên cũng muốn biết mặt một lần xem sao, bèn vui vẻ nhập bọn đi tìm.
Thấy đằng xa có một cô gái đang nghỉ dưới gốc cây, những cậu trai tinh nghịch vây quanh như bức tường. Cả bọn nói rằng:
- Chắc là cô nàng Bảo đấy rồi.
Chàng rảo bước đến xem thì quả là Bảo. Nhìn kỹ, thì thấy vẻ xinh tươi yểu điệu có một không hai. Một lát, người xem lại càng xúm đông. Cô gái vội đứng dậy bỏ đi. Mọi người đều nhốn nháo bàn tán, kẻ khen cái đầu, người thích cái chân, nhao nhao cả lên như một lũ điên. Chỉ riêng chàng là đứng lặng lẽ. Đến lúc cả bọn đã tản đi nơi khác, ngoái lại, trông thấy chàng vẫn đứng ngây ra ở chỗ cũ, gọi chẳng thưa, chẳng rằng. Họ bèn đến kéo đi, nói:
- Hồn theo A Bảo rồi sao?
Cũng không đáp. Biết tính chàng vốn lẩn thẩn, nên họ cũng không lấy làm lạ, người thì đẩy, người thì kéo, dẫn về.
Đến nhà lên ngay giường nằm, suốt ngày không dậy, li bì như người say rượu, gọi mấy cũng không tỉnh. Người nhà nghi là mất hồn, đi gọi hồn ở ngoài đồng, nhưng cũng vô hiệu. Lay người thật mạnh để hỏi thì ú ớ nói rằng: “Tôi ở nhà cô Bảo”. Hỏi kỹ lại thì lại làm thinh không nói nữa. Người nhà hoang mang không biết ra sao.
Nguyên hôm ấy, khi chàng thấy cô gái đứng dậy bỏ đi thì lòng không nỡ rứt, bỗng cảm thấy mình đã đi theo rồi, dần dần đi sát vào cạnh tà áo, đai lưng, cũng không ai la mắng gì cả. Cứ như thế theo mãi cô ta về nhà, khi ngồi khi nằm đều dựa kề một bên, đêm lại thì ôm ấp vuốt ve, rất lấy làm thích; nhưng thấy trong bụng đói quá, muốn trở về nhà mà quên mất cả đường. Còn nàng thì mỗi lần chiêm bao thấy mình giao hợp với một người nào đó, hỏi tên nói là Tôn Tử Sở, lòng lấy làm lạ nhưng không thể nói với ai được.
Ở bên nhà thì chàng nằm đã ba ngày, hơi thở chỉ còn thoi thóp. Người nhà hoảng lên, cho người lấy lời mềm mỏng đến nói với ông cụ xin tới nhà để chiêu hồn cho chàng. Ông cụ cười rằng:
- Bình nhật không từng vãng lai gì cả, làm sao mất hồn ở nhà tôi được?
Người nhà năn nỉ van lơn mãi, ông mới chịu. Thầy pháp cầm áo cũ và rơm cỏ sang nhà, cô gái bắt gặp, hỏi biết lý do, thất sắc, không cho đi tìm chỗ khác mà dẫn thẳng vào phòng mình, để cho mặc ý kêu gọi xong rồi ra. Thầy pháp vừa về đến cửa thì ở trên giường chàng đã rên lên một tiếng. Tỉnh rồi, phòng nàng có bao nhiêu tráp hương, hộp phấn, bao nhiêu đồ đạc, sắc gì, tên gì, kể ra vanh vách không sai. Nàng nghe tin lại càng kinh hãi và thầm cảm cái thâm tình của chàng. Chàng đã dậy khỏi giường được rồi thì khi đứng khi ngồi, trầm ngâm nghĩ ngợi chợt nhớ chợt quên. Thường thăm dò tin tức cô Bảo, chỉ mong tìm được cơ hội để gặp lại.
Đến ngày tắm Phật(1) nghe tin nàng sẽ dâng hương ở chùa Thủy Nguyệt, chàng dậy thật sớm, đến đứng một bên đường chờ nàng đi qua. Trông ngóng đến mắt hoa tròng mỏi, mãi khi mặt trời đứng ngọ, nàng mới đến, ngồi trong xe nhòm ra thấy chàng, lấy bàn tay xinh nhỏ vén màn, mắt nhìn đăm đăm không chuyển. Chàng càng xao xuyến, đi theo xe luôn. Nàng bỗng sai thị nữ đến hỏi tên họ. Chàng ân cần kể lể. Hồn vía rung chuyển, xe đi đã xa rồi mới quay về. Đến nhà thì ốm trở lại, mê man không ăn uống, trong giấc mơ thường gọi tên Bảo, những giận hồn mình sao không thiêng như trước nữa. Trong nhà nguyên có nuôi một con vẹt, bỗng lăn ra chết, đứa bé cầm chơi ở trên giường. Chàng ta nghĩ nếu thân được làm con vẹt thì có thể vỗ cánh bay đến phòng nàng. Còn đang chú tâm mơ tưởng thì mình đã là con vẹt nhẹ nhàng phơi phới bay vụt lên, thẳng sang nhà A Bảo. Cô gái thấy vẹt bay xuống mừng quá, chộp bắt xích cánh lại, lấy hạt vừng cho ăn. Vẹt kêu to lên rằng:

(1) Một ngày lễ của nhà Phật, ở Trung Quốc thường tiến hành vào ngày Phật sinh, tức 8 tháng 4 Âm lịch.

- Cô đừng xích! Tôi là Tôn Tử Sở đây mà!
Nàng kinh hoàng mở dây buộc, vẹt cũng không bay. Nàng khấn rằng:
- Tình thâm đã khắc tận đáy lòng, nhưng nay người và chim khác loài, làm sao nhân duyên còn vuông tròn được!
Vẹt nói:
- Được gần vóc thơm, là mãn nguyện lắm rồi!
Người khác cho mồi thì không ăn, nàng cho mồi ăn.
Nàng ngồi thì đậu trên vế, nằm thì đứng bên mé giường. Như thế ba ngày, cô gái rất lấy làm thương, cho người sang nhà chàng thăm dò, thì biết chàng thiếp đi, nằm sóng sượt, tắt thở đã ba ngày, chỉ còn một chút trên tim chưa lạnh.
Người lại khấn rằng:
- Nếu chàng trở lại làm người, thì xin thề chết cũng theo nhau.
Vẹt nói:
- Lừa tôi đấy!
Người bèn thề thốt. Vẹt nghiêng mắt, ra dáng nghĩ ngợi. Một lát, nàng bó chân, cởi giày để dưới gầm giường. Vẹt nhảy vụt xuống, ngậm giày bay đi, nàng kíp gọi lại thì bay đã xa rồi. Nàng cho mụ ở sang dò thăm thì thấy chàng đã tỉnh. Người nhà thấy con vẹt ngậm chiếc giày bay về, ngã xuống đất mà chết, đang cùng lấy làm lạ thì chàng vừa hồi sinh, hỏi ngay đến chiếc giày. Không ai hiểu ra sao cả. Vừa lúc ấy thì mụ ở nhà kia đến, vào thăm chàng, hỏi chiếc giày ở đâu. Chàng nói rằng:
- Đó là vật làm tin của cô Bảo. Xin gửi lời về nhắn hộ, rằng tiểu sinh không dám quên lời vàng đá.
Mụ ở về bẩm, nàng lại càng lấy làm lạ, cố ý bảo thị tỳ tiết lộ sự tình cho mẹ biết. Mẹ xét thấy đích xác, bảo rằng:
- Anh chàng ấy tài danh cũng chả vừa, chỉ hiềm nghèo như Tương Như(1). Kén chọn mấy năm được rể như thế, sợ các nhà quý hiển người ta cười cho.

(1) Tức Tư Mã Tương Như, người đời Hán, nhà rất nghèo, yêu Trác Văn Quân.


Image


Cô gái vin có chiếc giày, thề không lấy người khác. Ông, bà cũng phải theo vậy, cho người kíp báo với chàng. Chàng mừng, bệnh khỏi ngay. Ông muốn cho chàng ở gửi rể, nàng thưa rằng:
- Con rể không nên ở nhà cha vợ lâu, huống chàng lại nghèo, ở lâu càng bị coi rẻ. Con đã về tay người thì ở nhà gianh, nhà lá cũng cam, ăn rau lê, rau hoắc cũng không dám oán trách.
Chàng bèn làm lễ rước dâu; hai người gặp nhau như có cái vui cách thế. Từ đó, nhà chàng nhờ có tư trang của nàng cũng khá hơn trước, mua sắm thêm của cải. Chỉ phải cái chàng mê sách, không biết chăm lo việc sinh kế trong nhà. Nhưng nàng khéo chắt lót, những việc trong nhà không phải phiền đến chàng.
Được ba năm, nhà thêm giàu, bỗng chàng mắc bệnh tiêu khát mà chết. Nàng khóc lóc thảm thương, nước mắt không lúc nào ráo, bỏ cả ăn ngủ, ai khuyên giải cũng chẳng được. Thừa lúc đêm khuya, bèn thắt cổ, may có con ở biết được, vội cứu sống lại, nhưng cũng không chịu ăn.
Được ba ngày, họ hàng đến để liệm chàng, bỗng nghe trong quan tài có tiếng rên và tiếng thở. Mở ra chàng đã sống lại. Tự nói rằng:
- Khi ra mắt Diêm Vương, ngài bảo: “Người này bình sinh thành thực, chất phác, cho làm chức bộ tào”. Bỗng có người đến tâu rằng: “Vợ của bộ tào họ Tôn sắp tới”. Ngài tra sổ ma rồi bảo: “Người ấy chưa đáng chết”. Lại tâu rằng: “Không ăn đã ba ngày rồi”. Diêm vương ngoảnh lại nói rằng: “Ta cảm vợ ngươi tiết nghĩa, cho ngươi sống lại”, bèn sai lính thắng ngựa đưa tôi về.
Từ đó bình phục dần.
Gặp năm có kỳ thi hương, trước khi vào trường bọn thiếu niên muốn bày trò trêu chàng, bèn cùng đặt ra bảy đầu đề rất hiểm hóc, rồi kéo chàng ra chỗ vắng nói riêng rằng:
- Đây là nhờ thế lực của đại gia nọ mới có, xin bí mật trao tay nhau.
Chàng tin là thật, đêm ngày mài miệt, làm cả bảy bài. Chúng cười thầm.
Không ngờ năm ấy, viên chủ khảo nghĩ rằng ra đề quen thuộc thì thường có cái tệ sao chép văn cũ, bèn cố sức thay đổi cho thật mới lạ. Giấy đầu bài đưa xuống thì cả bảy bài chàng đã làm đều phù hợp. Nhờ đó, chàng đỗ thủ khoa. Năm sau đỗ tiến sĩ, được bổ chức từ lâm. Vua nghe thấy chuyện lạ, triệu vào hỏi, chàng khải tấu lên, vua hết lòng ngợi khen.
Về sau lại cho gọi cô Bảo vào bệ kiến, tặng thưởng rất nhiều.

Cao Xuân Huy dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,486
Posts: 13695
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 17 Aug 2022

Hồng Ngọc


Ông cụ họ Phùng người Quảng Bình(1) có một con trai tên chữ là Tương Như. Hai bố con cùng là chư sinh(2). Ông Phùng tuổi gần sáu mươi, tính ương ngạnh mà nhà vẫn thường thiếu thốn. Trong khoảng vài năm, vợ và con dâu lại cùng mất cả, việc cơm nước đều phải tự làm lấy.

(1) Nay thuộc tỉnh Hà Bắc.
(2) Tức nho sinh. Là học trò có tên ở trường học của huyện.


Một đêm, Tương Như ngồi dưới bóng trăng, chợt thấy người con gái láng giềng bên phía Đông từ trên tường nhòm sang. Chàng nhìn thấy đẹp, đến gần, thấy hơi cười, lấy tay vẫy, không đến, cũng không đi, cố nài mãi mới trèo thang sang. Liền ăn nằm với nhau. Hỏi họ tên, cô gái nói:
- Thiếp là con gái nhà láng giềng tên là Hồng Ngọc.
Chàng rất yêu, xin cùng nàng kết duyên lâu dài. Cô gái nhận lời. Từ đấy, đêm đêm thường đi lại, được độ nửa năm. Một đêm, ông Phùng thức dậy, nghe trong buồng con có tiếng con gái cười nói, nhòm vào xem thấy cô gái. Giận lắm, gọi chàng ra mắng:
- Đồ súc sinh, làm cái trò gì thế? Cửa nhà sa sút như thế, đã không biết chịu khó, lại còn học thói đàng điếm ư? Người ta biết ra thì phẩm hạnh của mày còn ra gì nữa! Dẫu người ta không biết thì tuổi thọ của mày cũng giảm.
Chàng quỳ xuống nhận lỗi, khóc xin hối cải. Ông cụ mắng cô gái:
- Con gái không biết giữ phép buồng khuê, đã nhuốc mình lại làm nhuốc cả người. Nếu việc vỡ lở ra, hẳn không phải chỉ một nhà này xấu hổ.
Mắng xong, bực tức quay vào ngủ. Cô gái chảy nước mắt nói:
- Lời bố quở trách, thật là thẹn nhục! Duyên phận hai ta thôi thế là hết.
Chàng nói:
- Còn cha, con không được tự chuyên. Nếu nàng còn có tình, thời nên ngậm tủi mà thương yêu lấy nhau.
Cô gái quyết định dứt bỏ. Chàng bèn lau nước mắt. Cô gái lại khuyên giải, nói:
- Thiếp với chàng không có lời của mối lái, không có lệnh của cha mẹ, chỉ là trèo tường mà theo nhau, thì sao có thể cùng nhau đầu bạc được? Vùng này có một người tốt đôi với chàng, có thể hỏi làm vợ.
Chàng phàn nàn nhà nghèo, cô gái nói:
- Tối mai đợi nhau, tôi sẽ mưu tính cho.
Đêm hôm sau, cô gái quả nhiên đến, bỏ bốn mươi lạng bạc ra tặng chàng, nói rằng:
- Cách đây sáu mươi dặm, ở thôn Ngô có một người con gái họ Vệ, tuổi đã mười tám, còn cao giá nên chưa ai lấy; chàng cho nhiều tiền thì ắt phải xong việc.
Nói xong, từ biệt mà đi. Chàng lựa lúc nói được, thưa với bố, muốn xin đi xem mặt, nhưng câu chuyện số tiền thì giấu đi, không dám nói cho bố biết, ông Phùng tự nghĩ nhà nghèo, nên vì cớ đó gạt đi. Chàng lại tìm lời ôn tồn nói với bố hãy thử đi xem, không được thì thôi. Ông cụ gật đầu.
Chàng bèn thuê đầy tớ và ngựa đi đến nhà họ Vệ. Vệ vốn là người làm ruộng. Chàng gọi ra ngoài nói chuyện. Vệ biết chàng là con nhà dòng, lại thấy dáng người khôi ngô, trong bụng đã bằng lòng, nhưng còn ngại chàng không lo được nhiều tiền. Chàng nghe ông cụ nói ngập ngừng, đã biết ý, bèn dốc tiền trong túi ra, bày trên bàn. Vệ mừng, nhờ người học trò bên láng giềng đứng giữa, viết tờ giấy đỏ mà giao ước với nhau. Chàng vào chào bà cụ, thấy nhà cũng chật hẹp, cô gái đứng nấp sau mẹ. Chàng đưa mắt nhìn, tuy ăn mặc xuềnh xoàng mà thần sắc tinh anh rực rỡ, bụng mừng thầm. Vệ tạm thuê nhà tiếp rể và nói:
- Công tử không cần đón dâu, đợi may được ít quần áo sẽ đưa đến tận nơi.
Chàng liền hẹn ngày rồi về, nói dối với bố rằng:
- Họ Vệ mến nhà ta dòng dõi thanh bạch, nên không đòi tiền.
Ông cụ cũng mừng.
Đến ngày hẹn, Vệ quả đưa cô gái đến. Cô gái siêng năng dè sẻn, lại thuần thục nết na, tình nghĩa vợ chồng thật là thắm thiết. Hơn hai năm, sinh được một con trai, đặt tên là Phúc Nhi.
Nhân ngày tết thanh minh, bế con đi thăm mộ, gặp kẻ thân hào trong ấp là họ Tống. Tống nguyên làm quan ngự sử trong triều, phạm tội tham lam, phải cách chức, về làng nhưng vẫn giương oai hà hiếp người. Hôm đó cũng đi thăm mộ về, thấy cô gái cho là đẹp, hỏi người trong thôn biết là vợ chàng. Nghĩ Phùng là học trò nghèo, đem của ra dụ dỗ, có thể làm cho đổi lòng. Liền sai người nhà bắn tin cho chàng. Chàng nghe thấy, giận hiện ra mặt, rồi lại nghĩ thế không địch nổi với Tống, bèn nén giận làm vẻ tươi cười. Về nói với bố. Ông Phùng giận lắm, chạy ra trước mặt người nhà họ Tống, trỏ trời vạch đất mắng nhiếc tàn tệ. Tên người nhà lủi đi mất. Họ Tống cũng tức giận, sai mấy đứa xông vào nhà chàng, đánh cả bố lẫn con, làm sôi sùng sục. Cô gái nghe thấy, bỏ con xuống giường, quấn tóc chạy ra kêu cứu. Chúng liền cướp lấy, khiêng lên rồi ầm ầm kéo đi. Hai bố con bị đánh đau, rền rĩ trên đất; đứa bé oe oe khóc trong nhà. Hàng xóm láng giềng cùng thương hại, xốc đỡ đặt lên giường. Qua ngày sau, chàng chống gậy mới đứng lên được, còn ông cụ thì tức giận không ăn rồi thổ ra huyết mà chết.
Chàng lăn khóc, ẵm con đi kiện lên đến đốc phủ. Kiện hầu khắp mọi nơi, rút cuộc vẫn không thắng, sau lại nghe nói vợ không chịu khuất mà chết, lại càng đau xót. Khí oan đầy bụng, không lối nào bày giãi được. Thường nghĩ muốn đón đường đâm Tống chết, nhưng lo đầy tớ nó đông, con nhỏ lại không gửi ai được. Ngày đêm buồn bã nghĩ ngợi, hai mắt không nhắm.
Chợt có một người đàn ông đến chơi nhà, râu quăn, hàm rộng, xưa nay chưa từng quen. Chàng mời ngồi, toan hỏi họ tên quê quán, khách đã vội nói trước:
- Ông có cái thù người ta giết mất bố, cướp mất vợ mà không báo ư?
Chàng ngỡ là người của Tống sai đến dò xét, nên chỉ trả lời qua quít cho xong. Khách giận, mắt trợn tròn muốn rách khóe, liền bước ra, nói:
- Tôi tưởng anh là người, nay mới biết là thằng hèn không đáng đếm xỉa.
Chàng xét thấy có cái gì khác lạ, liền quỳ xuống, kéo áo khách nói rằng:
- Thực ra vì sợ người nhà Tống đến dò la, nay xin giãi hết tâm can. Cái điều nằm gai nếm mật của tôi, kể đã nhiều ngày rồi; chỉ thương hòn máu trong bọc này, sợ rồi tuyệt tự mất. Ngài là bậc nghĩa sĩ, liệu có thể vì tôi mà làm chàng Chữ Cữu(1) được chăng?

(1) Công Tôn Chữ Cữu, người Tấn, đời Xuân Thu, làm môn khách của Triệu Sóc. Triệu Sóc bị Đồ Ngạn Giả giết, lại toan giết đứa con còn trong bụng. Công Tôn Chữ Cữu cùng với Trình Anh lừa được Ngạn Giả. Sau đó đứa con báo thù được cho bố.

Khách nói:
- Đó là việc đàn bà con gái, tôi không làm được. Cái việc ông muốn nhờ người, xin hãy tự làm lấy, còn cái việc ông muốn tự làm thì tôi xin làm thay cho.
Chàng nghe nói, đập đầu xuống đất. Khách chẳng thèm ngoái lại, bỏ đi ra. Chàng chạy theo hỏi họ tên, đáp rằng:
- Việc không xong, không nhận oán; việc xong không nhận ơn.
Rồi đi liền.
Chàng sợ vạ đến mình, ẵm con trốn đi.
Đến đêm, cả nhà họ Tống đang ngủ, có người vượt qua mấy lần tường vào, giết ba cha con nhà ngự sử với một thị tỳ, một con dâu. Nhà họ Tống làm tờ trạng cáo quan, quan rất kinh hãi. Họ Tống cố vu cho Tương Như. Vì thế quan cho lính đi bắt chàng. Chàng trốn không ai biết là đi đâu, vì thế càng cho là thật. Đầy tớ nhà họ Tống cùng với lính nhà quan đi lùng khắp nơi, đêm đến núi Nam Sơn, nghe có tiếng trẻ khóc, lần tìm ra được, liền trói mang đi. Đứa bé càng khóc dữ, chúng liền giật lấy vứt đi. Chàng oan ức muốn chết. Khi gặp quan lệnh ở ấp, quan hỏi tại sao giết người? Chàng thưa:
- Thực là oan! Nhà họ Tống chết về đêm, tôi ra đi từ ban ngày; vả lại ẵm đứa bé oe oe như vậy thì leo tường giết người sao được?
Quan lệnh nói:
- Không giết người sao lại đào tẩu?
Chàng hết nói, không biện bạch được nữa. Liền giam vào ngục. Chàng khóc nói rằng:
- Tôi chết cũng không tiếc, nhưng đứa bé mồ côi kia có tội gì?
Quan lệnh nói:
- Mày giết con người ta đã nhiều, thì giết con mày còn oán gì nữa?
Chàng bị lột áo mũ nho sinh(1), lại bị cùm kẹp, đánh đập khổ sở nhưng cũng không xưng nhận điều gì.

(1) Khi nho sinh có tội, bị lột mũ áo rồi mới ghép tội.

Quan lệnh đêm hôm ấy nằm ngủ bỗng nghe có vật gì đập vào giường, kêu đánh soạt một tiếng, sợ quá kêu lên. Cả nhà giật mình thức dậy, xúm lại đốt đuốc soi, thấy một con dao ngắn lưỡi sắc nhọn sáng loáng, cắm vào giường sâu xuống gỗ đến hơn một tấc, chặt cứng không thể rút ra được. Quan lệnh trông thấy, sợ hết hồn vía, cho người cầm giáo đi lùng khắp nơi cũng không thấy tung tích gì cả. Bụng cũng nản, lại nghĩ: người họ Tống đã chết rồi, không có gì đáng sợ nữa, bèn trình bẩm lên quan trên để giải oan cho chàng rồi tha cho về.
Chàng về đến nhà, trong hũ không còn một đấu gạo, một mình một bóng ngồi trông bốn bức vách mà thôi. May được hàng xóm thương xót cho ăn uống, tạm bợ sống qua ngày. Nghĩ đến cái thù lớn đã trả được thì mừng đến tươi tỉnh lại; nhưng nghĩ đến cái họa thảm khốc, suýt nữa chết cả một nhà thì nước mắt lại đầm đầm sa xuống; lại nghĩ nửa đời nghèo xác, dòng dõi không ai nối, thì ở nơi vắng người bỗng khóc rống lên khản cả tiếng, không tự nén giữ được.
Như thế chừng nửa năm, việc bắt bớ cũng nhạt dần, bèn kêu xin với quan huyện cho được mang hài cốt họ Vệ về. Chôn cất xong, đau xót muốn chết. Một mình trằn trọc trên giường, nghĩ không còn cách gì sống.
Bỗng có một người gõ cửa, chàng chú ý lắng nghe, thấy ngoài cửa có tiếng một người đang thỏ thẻ nói chuyện với trẻ con. Chàng vội dậy, ra dòm xem thì hình như một người con gái. Cánh cửa vừa mở, liền hỏi:
- Cái oan lớn đã được rửa, may không việc gì chứ?
Tiếng nói nghe quen lắm, mà trong lúc lật đật không thể nhớ ra được. Đánh lửa soi thì ra Hồng Ngọc, bế một đứa con nhỏ cười đùa ở dưới đầu gối. Chàng chưa kịp hỏi, ôm lấy cô gái mà khóc òa. Cô gái cũng thảm đạm lắm. Rồi đẩy đứa bé mà nói:
- Mày quên bố mày rồi ư?
Đứa bé nắm lấy áo cô gái, mắt chòng chọc nhìn chàng. Chàng nhìn kỹ thì ra Phúc Nhi. Giật mình kinh hãi, khóc mà hỏi rằng:
- Con sao lại về đây được?
Cô gái nói:
- Nói thực với chàng, trước kia thiếp nói là con gái bên láng giềng là nói dối đấy, thiếp thực là hồ. Nhân đi đêm thấy tiếng trẻ khóc trong hang, liền bế về nuôi ở Tần. Nghe nạn lớn đã yên nên đem con về cùng chàng đoàn tụ.
Chàng lau nước mắt lạy tạ. Đứa bé ngồi trong lòng cô gái y như nương tựa vào mẹ đẻ, thật không nhận ra bố nữa. Trời chưa sáng, cô gái đã trở dậy. Hỏi thì đáp:
- Kẻ nô bộc này muốn đi đây.

Image


Chàng chưa mặc áo, quỳ ở đầu giường, khóc không ngẩng mặt lên được nữa. Cô gái cười nói rằng:
- Thiếp nói dối chàng đấy. Nay nhà đương gây dựng lại, không thức khuya dậy sớm sao được?
Rồi phát cỏ, quét dọn, làm như đàn ông vậy. Chàng lo nhà nghèo túng, không thể đủ ăn. Cô gái nói:
- Chỉ xin chàng cứ việc buông màn đọc sách, không phải hỏi đến thiếu đủ, may không đến nỗi chết đói nào.
Rồi bỏ tiền đóng khung cửi dệt vải, lại thuê vài mươi mẫu ruộng, mướn người cày cấy, bới cỏ ruộng, lợp nhà rách, hàng ngày như thế, coi là việc thường. Làng xóm nghe nói có vợ hiền càng vui lòng giúp đỡ. Chừng nửa năm, cảnh nhà thịnh vượng, như thể một nhà giàu lớn.
Một hôm chàng nói:
- Sau lúc tro tàn, nhờ mình tay trắng gây dựng lại, nhưng còn một việc chưa được thỏa, biết làm thế nào?
Hỏi là việc gì, chàng đáp:
- Kỳ thi sắp đến, mà khăn áo chưa lấy lại được?(1)
Cô gái cười nói:
- Trước đây thiếp đã lấy bốn lạng vàng gửi lên quan quảng văn(2) đã lấy lại được tên vào sổ. Đợi chàng nhắc thì lỡ lâu rồi còn gì?

(1) Theo lệ xưa, nho sinh đã bị lột mũ áo thì mất quyền đi thi. Phải được xác nhận là vô tội, được khôi phục mũ áo trước rồi mới được vào thi.
(2) Chức quan coi việc học.


Chàng càng cho là thần. Khoa ấy, chàng đỗ hương thí. Bấy giờ, tuổi vừa ba mươi sáu, ruộng tốt liền bò, nhà cao cửa rộng. Cô gái người vẫn mảnh dẻ tưởng như gió thổi là bay, mà làm lụng quá con nhà nông. Tuy mùa đông rét buốt vẫn chịu khó làm, mà bàn tay vẫn mềm mại như mỡ đông. Tự nói là ba mươi tám tuổi, người ta trông chỉ như người đôi mươi.

Đỗ Ngọc Toại dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,486
Posts: 13695
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 17 Aug 2022

Bộ Da Vẽ (Họa bì)


Thư sinh họ Vương, quê ở Thái Nguyên(1), một hôm đi sớm, gặp một người con gái ôm bọc quần áo, đi một mình, chân bước ra dáng khó nhọc. Vương vội đi vượt lên, nhìn thì ra một cô gái tuổi chừng đôi tám, nhan sắc tuyệt vời. Bụng yêu thích lắm, liền hỏi:

(1) Một quận thuộc tỉnh Sơn Tây.


- Sao mới sớm mà đã đi lẻ loi một mình thế?
Người con gái đáp:
- Là khách qua đường, hiểu sao được nỗi lo buồn của người khác. Hỏi nhau làm gì cho mệt?
Chàng hỏi lại:
- Nàng có nỗi lo buồn gì vậy? Nếu có thể gắng giúp được, tôi sẽ không từ.
Cô gái ủ dột đáp:
- Bố mẹ tham tiền, bán thiếp cho một nhà giàu sang. Người vợ cả rất hay ghen, sớm chiều đánh mắng nhục nhã, không thể chịu nổi nên phải trốn đi.
Hỏi:
- Đi đâu bây giờ?
Đáp:
- Người đã đi trốn, lại có nơi nào định trước được?
Chàng nói:
- Tệ xá không xa, xin mời nàng quá bước lại đó.
Cô gái mừng lắm, theo chàng. Chàng mang hộ bọc quần áo, đưa nàng cùng về.
Cô gái thấy nhà không có người liền hỏi:
- Tại sao chàng không có người nhà?
Chàng đáp:
- Đây chỉ là thư trai thôi(1).

(1) ở Trung Quốc ngày xưa, phòng học, hay là “trai phòng”, thường được làm cách biệt với nhà ở, có khi khá xa, vợ con không mấy khi lai vãng.

Cô gái nói:
- Nơi này tốt lắm. Chàng như có bụng thương mà cứu sống thiếp thì xin bí mật, chớ để lọt ra ngoài.
Chàng bằng lòng. Liền cùng nàng chung chạ. Giấu giếm trong buồng kín, qua mấy ngày cũng không ai hay.
Chàng nói hé với vợ. Vợ họ Trần, ngờ rằng đó là nàng hầu vợ bé của nhà đại gia nào, khuyên chồng để cho nàng đi. Chàng không nghe. Tinh cờ một hôm đi qua chợ, gặp một đạo sĩ, nhìn chàng kinh ngạc, hỏi có gặp gì không.
Chàng đáp:
- Không.
Đạo sĩ nói:
- Người anh đầy tà khí, sao lại nói là không?
Chàng lại cố chối. Đạo sĩ liền bỏ đi và nói:
- Mê muội thay! Đời vẫn có kẻ sắp chết đến nơi mà còn chưa tỉnh!
Chàng thấy lời nói lạ nên cũng hơi ngờ người con gái, nhưng lại nghĩ cô gái đẹp sờ sờ ra đấy, sao đến nỗi là yêu quái được; ý cho đạo sĩ là kẻ mượn tiếng yểm tà để lấy miếng ăn.
Một lát sau về đến nhà học. Cổng trong đóng chặt, không thể vào được, trong bụng đã ngờ có sự gì, liền trèo qua chỗ tường lở mà vào, thì cửa buồng cũng đóng. Chàng rón rén đến trước cửa sổ nhìn, thấy một con quỷ nanh ác, mặt xanh lét, răng chơm chởm như răng cưa, đang trải một tấm da người lên trên giường, lấy bút màu mà vẽ lên trên. Vẽ xong, ném bút, nhấc tấm da như thể nâng tấm áo, khoác lên người, lập tức hóa ra cô gái.



Image


Trông thấy tình trạng đó, chàng sợ quá, bò rạp trên mặt đất mà lẻn ra. Vội đi tìm đạo sĩ thì đã không biết đi đâu. Tìm kiếm khắp nơi, mới gặp ngoài đồng, liền quỳ xuống xin cứu mạng. Đạo sĩ nói:
- Sẽ xin trừ giúp. Con quỷ đó cũng khốn khổ lắm mới tìm được người thay nó, ta cũng không nỡ hại tính mạng nó.
Liền lấy chiếc phất trần đưa cho chàng, dặn treo ở cửa buồng ngủ. Lúc sắp đi, hẹn gặp lại ở miếu Thanh Đế.
Chàng trở về không dám tới nhà học, đành ngủ ở buồng vợ, treo phất trần lên. Vào khoảng canh một, nghe ngoài cửa có tiếng lách cách, tự mình không dám dậy nhòm, phải bảo vợ nhòm xem. Chỉ thấy cô gái đi đến, nhìn lên phất trần không dám bước nữa; đứng đó mà nghiến răng, một lúc lâu mới đi. Lát sau lại đến mắng rằng:
- Đạo sĩ chỉ dọa ta! Chẳng lẽ miếng ăn đã đến miệng lại nhả ra hay sao?
Liền lấy chiếc phất trần bẻ nát, rồi phá cửa buồng ngủ bước vào, nhảy lên giường của chàng, xé bụng chàng, moi lấy quả tim rồi đi.
Vợ chàng kêu thét lên. Con hầu vào soi đèn thì chàng đã chết, trên khoang bụng máu me bê bết. Trần thị rất sợ, chỉ khóc, không dám kêu. Hôm sau nàng cho em chồng là chàng Hai chạy đi nói với Đạo sĩ. Đạo sĩ tức giận nói:
- Ta đã thương tình, ngờ đâu con quái này lại dám to gan đến thê?
Lập tức theo người em chàng về, cô gái đã biến mất.
Bèn ngẩng đầu, nhìn bốn phía nói:
- May nó trốn chưa xa.
Lại hỏi:
- Phía Nam là nhà ai?
Chàng Hai đáp:
- Đó là nhà của tiểu sinh.
Đạo sĩ nói:
- Hiện nó ở nhà anh.
Chàng Hai ngạc nhiên, cho rằng không có.
Đạo sĩ hỏi:
- Đã có người nào không quen mà đến chưa?
Chàng Hai đáp:
- Tôi đến miếu Thanh Đế, thực quả không biết, để về nhà hỏi xem.
Đi một lát, trở về nói:
- Quả có thật. Sáng nay có một mụ già đến, muốn xin làm mướn cho nhà tôi, vợ tôi ngăn lại, mụ vẫn còn ở đó.
Đạo sĩ nói:
- Chính là nó đấy.
Liền cùng đi sang, cầm kiếm gỗ đứng ở giữa sân, thét:
- Yêu nghiệt, đền ta phất trần đây!
Mụ già ở trong nhà hốt hoảng, tái mặt, ra cửa toan chạy. Đạo sĩ đuổi theo đâm, mụ ta ngã xuống, tấm da người bỗng rơi tuột ra, hóa thành con quỷ dữ, nằm kêu rống như lợn. Đạo sĩ lấy kiếm gỗ chém, bêu đầu lên; thân nó biến thành đám khói dày đặc, xoáy tròn trên mặt đất, thành một đám dày. Đạo sĩ lấy ra một cái hồ lô mở nút để vào giữa đám khói, kêu vù vù như mồm hút hơi, một lát khói hết, đạo sĩ nút hồ lô lại, bỏ vào dãy. Mọi người nhìn tấm da, lông mày, con mắt, tay chân không thiếu gì cả. Đạo sĩ cuộn lại, tiếng kêu như cuộn trục tranh, cũng bỏ vào trong dãy, rồi từ biệt toan đi. Trần thị đón vái trước cửa, khóc xin làm phép hồi sinh cho chồng. Đạo sĩ từ chối không thể làm được. Trần thị càng thảm thiết, quỳ rạp trên đất không dậy. Đạo sĩ nghĩ ngợi rồi nói:
- Phép thuật của ta còn nông cạn, thực không thể làm người chết sống lại được. Ta trỏ giúp một người, may ra có thể làm điều đó. Đến cầu xin tất là có kết quả.
Hỏi người nào, đáp:
- Trong chợ có một người điên, thường nằm trên đống phân; thử đến mà kêu xin với ông ta xem. Nhưng dù có buông tuồng làm nhục phu nhân, phu nhân cũng chớ có tức giận.
Chàng Hai cũng đã biết người điên đó, bèn từ biệt Đạo sĩ, rồi cùng chị dâu đi tìm. Thấy người ăn mày đang rồ dại ca hát trên đường, mũi dài lòng thòng, bẩn thỉu quá không thể đến gần được. Trần thị lết đầu gối đến trước mặt. Người ăn mày cười, nói:
- Người đẹp yêu ta chăng?
Trần thị kể nguyên do, thì lại cười lớn, nói:
- Ai cũng là chồng được cả, làm sống lại làm gì?
Trần thị cố kêu van. Bèn nói:
- Kỳ thay, người chết mà lại nhờ ta làm sống lại; ta là Diêm Vương hay sao?
Tức giận lấy gậy đánh Trần thị. Trần thị nhẫn nhục cố chịu đau. Người trong chợ dần dần đổ đến xem chật như bức tường. Người ăn mày khạc đờm ra đầy bàn tay, đưa tới Trần thị nói: “Ăn đi!” Trần thị đỏ bừng mặt, có vẻ ngại. Lại nghĩ đến lời Đạo sĩ dặn, liền cố liều nuốt.
Thấy dãi đờm vào cổ họng, cứng như túm bông, cố nuốt thì nghèn nghẹn mà trôi xuống, rồi dừng lại ở quãng ngực. Người hành khất cười lớn nói:
- Người đẹp quả yêu ta thay!
Liền đứng dậy đi, chẳng ngoảnh lại nữa. Bước theo sau, thấy vào trong miếu. Cố đuổi kịp để kêu nài nữa, thì không biết đã đi đâu mất. Tìm trước, tìm sau không thấy tăm hơi đâu cả, vừa thẹn vừa giận mà trở về. Đã thương chồng chết thảm, lại hối vì nỗi nhục ăn bãi đờm, nàng ôm mặt ngồi khóc, chỉ muốn chết ngay. Đương toan gạt máu liệm thây chồng, người nhà cứ đứng nhìn, không ai dám đến gần; Trần thị ôm lấy thây chổng, nhặt mớ ruột, vừa xếp lại vừa khóc. Khóc đến lúc khản tiếng, bỗng buồn nôn, thấy cái vật kết trong bụng trôi tuột ra, chưa kịp quay đầu lại, nó đã rơi vào trong bụng người chết.
Kinh hãi nhìn kỹ thì ra đó là quả tim người, vẫn đang nhảy thon thót trong bụng, hơi nóng bốc lên như khói. Lấy làm lạ, vội đưa hai tay khép bụng chồng lại, hết sức giữ chặt lấy, hơi nới tay thì hơi nóng từ khe hở thoát ra; mới xé lụa vội buộc chặt lại. Sờ tay vào thây chồng; dần dần ấm lại, bèn lấy chăn đắp lên. Nửa đêm mở ra xem, mũi có hơi thở. Đến sáng thì sống lại hẳn, Chồng kể lại: “Hoảng hốt như nằm mơ, chỉ thấy nơi bụng còn đau lâm râm”. Xem chỗ bị xé rách, thấy đóng vẩy to bằng đồng tiền, sau dần dần khỏi.

Đỗ Ngọc Toại dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,486
Posts: 13695
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 18 Aug 2022

Xảo Nương


Miền Quảng Đông có một ông quan họ Phó, tuổi ngoại sáu mươi, sinh một trai tên là Liêm, rất thông tuệ, nhưng chẳng may bị “trời hoạn”(1), mười bảy tuổi mà dương vật chỉ nhỏ như con tằm. Xa gần biết chuyện, không một nhà có con gái nào dám nhận lời hứa gả. Tự nghĩ phận mình dòng dõi đã tuyệt, ngày đêm lo lắng không biết làm thế nào.

(1) Nguyên văn là “thiên yêm”, tức là sinh ra đã bị liệt dương. Chúng tôi dịch sát hai chữ thiên yêm thành trời hoạn.

Liêm theo thầy học tập, một hôm nhân thầy đi vắng, ngoài cửa lại có gánh xiếc khỉ, bèn bỏ học đi xem. Đến chừng đoán thầy sắp về đến nơi, sợ hãi bỏ trốn luôn. Rời nhà được mấy dặm, trông thấy một nàng áo trắng cùng một con hầu nhỏ đang đi ở phía trước. Một lần cô gái quay đầu lại, thì ra khuôn mặt diễm lệ ít ai sánh được. Gót sen bước có vẻ chậm rãi, Liêm vội đi vượt lên. Cô gái quay sang nói với con hầu:
- Thử hỏi chàng xem có phải định đến kẻ Quỳnh không?
Con hầu liền gọi chàng hỏi. Liêm hỏi lại rằng có việc gì. Cô gái đáp:
- Ví thử có đi Quỳnh thì có phong thư, phiền chàng tiện đường đưa giúp về nhà hộ. Mẹ già tôi ở nhà cũng là người hiếu khách.
Liêm lúc ra đi vốn cũng chưa định đi đâu. Nghĩ rằng lênh đênh hồ hải một chuyến cũng hay, bèn nhận lời. Cô gái bèn rút lá thư đưa con hầu, con hầu trao lại cho chàng. Hỏi họ tên quê quán thì nàng đáp:
- Họ Hoa, ở làng gái Tần, cách thành Bắc chừng ba bốn dặm.
Chàng bèn đáp thuyền mà đi. Đến được thành Bắc đất Quỳnh Châu vào lúc trời đã chiều tối. Hỏi thăm thôn gái Tần, chẳng một ai biết cả. Đành nhằm hướng Bắc mà đi, được chừng bốn năm dặm thì trăng sao nhấp nháy, cỏ dại thơm lừng, mờ cả mắt, chốn đồng không chẳng có lấy một quán trọ nào; tình cảnh thật khốn quẫn. Nhìn thấy một ngôi mộ bên đường, nghĩ muốn nằm nghỉ quách bên ngôi mộ đó, nhưng lại khiếp sợ hổ lang. Bèn ôm cây trèo lên, ngồi chồm chỗm trên ngọn cao. Nghe tiếng thông reo xào xạc, côn trùng tỉ tê, trong lòng thảng thốt, hối hận như thiêu như đốt. Thốt nhiên nghe bên dưới có tiếng người. Cúi đầu nhòm xuống, thì rành rành đã là một nơi sân viện; một cô gái xinh đẹp ngồi trên phiến đá, hai con hầu vấn tóc châm đuốc hoa đứng hầu hai bên. Người đẹp quay đầu sang bên trái bảo:
- Đêm nay trăng sáng sao thưa, gói trà cô Hoa vừa tặng có thể đem pha một ấm uống thưởng thức đêm thanh được đấy.
Chàng nghĩ đây hẳn là ma quỷ, trong mình sởn cả gai ốc, nín hơi không dám thở. Chợt một con hầu nhìn lên nói:
- Trên cây có người.
Cô gái kinh hãi đứng bật dậy kêu lên:
- Trẻ ranh lớn mật ở đâu dám mò đến đây nhòm trộm người khác!
Chàng cả sợ, không còn chỗ nào để trốn nữa, đành leo cây tụt xuống, phục xuống đất xin tha thứ. Cô gái đến gần, đưa mắt nhìn qua một lượt, chợt đổi giận làm vui, kéo chàng dậy cùng ngồi. Chàng liếc mắt ngó nàng, thì tuổi khoảng mười bảy mười tám, vẻ người xinh đẹp có một. Nghe giọng nói cũng tiếng vùng này(1), nàng hỏi:

(1) Nguyên văn là “thổ âm”. Có bản: “phi thổ âm”.


- Chàng đi đâu thế này?
Đáp rằng:
- Có người nhờ đưa giúp lá thư.
Nàng nói:
- Đồng hoang nhiều hung đồ, ngủ giữa trời sương rất đáng ngại. Nếu chẳng hiềm nhà tranh vách đất, xin mời vào nghỉ tạm.
Nói rồi đưa chàng vào nhà. Trong nhà chỉ có một chiếc giường, nàng sai con hầu sắp hai tấm chăn lên đấy. Chàng tự thẹn thân hình xấu xí, xin nằm ở dưới đất. Nàng cười đáp:
- Khách quý đến nhà, con gái dám đâu thất lễ, đòi nằm cao hơn khách!(2).

(2) Nguyên văn dùng điển “Nguyên Long cao ngọa”. Nguyên Long tức Trần Đăng, người Đông Hán, mỗi lúc tiếp khách để khách nằm giường thấp, mình ngự giường cao. Chúng tôi dịch thoát.

Chàng không biết tính sao, đành phải nằm chung một giường, nhưng trong lòng hoang mang lo lắng, không dám tự tiện co duỗi. Chẳng bao lâu, cô gái luồn bàn tay nhỏ nhắn qua lớp chăn, cấu nhẹ vào đùi chàng.
Chàng vờ ngủ, như không biết gì. Lại một chốc nữa, nàng mở chăn ra chui hẳn sang, lay chàng, chàng vẫn nằm yên không động. Nàng thuận tay lần xuống thám thính chỗ kín, bỗng ngừng ngay lại, dáng buồn thiu, rồi thiểu não lật chăn trở dậy; giây lát nghe có tiếng khóc. Chàng vừa thảng thốt vừa e thẹn, không biết làm gì hơn là tự trách mình, lại giận trời sao nỡ bắt người ta phải khuyết tật. Cô gái gọi con hầu thắp đèn lên. Nhìn thấy mắt nàng còn ngấn lệ, con hầu kinh ngạc hỏi có điều gì buồn khổ. Nàng lắc đầu đáp:
- Ta tự thương mình phận bạc thôi!
Con hầu đứng trước giường, nhìn chằm chằm xuống mặt chàng. Nàng bảo:
- Hãy gọi anh ta dậy rồi bảo xéo đi!
Nghe mấy lời ấy chàng càng bội phần xấu hổ. Lại thêm lo đang giữa đêm hôm, tối tăm mù mịt chẳng biết đâu mà đi. Giữa lúc còn dùng dằng suy nghĩ thì một người đàn bà đẩy cửa bước vào. Con hầu thưa:
- Cô Hoa đã về.
Chàng hé mắt nhìn trộm thì thấy bà này tuổi chừng ngoài năm mươi, nhưng còn giữ được phong vận. Thấy cô gái chưa ngủ, bà liền hỏi duyên cớ. Nàng chưa kịp đáp thì lại thấy trên giường có người nằm, bèn hỏi:
- Nằm cùng giường là ai đấy?
Con hầu trả lời thay:
- Lúc tối có một chàng trai trẻ đến đây xin ngủ nhờ.
Bà ta liền cười:
- Nào biết đâu Xảo Nương lại vui thú “động phòng hoa chúc”.
Chợt nhìn thấy cô gái ngấn lệ chưa khô, bà kinh ngạc hỏi:
- Đêm hợp cẩn mà lại buồn bã khóc lóc không phải cách; chẳng lẽ chàng rể thô bạo lắm sao?
Nàng không đáp, mặt càng thêm âu sầu. Bà ta định kéo vạt áo để nhìn chàng, vừa động đến áo thì phong thư rơi xuống giường. Nhặt lên xem, bà bỗng sợ hãi nói:
- Ý chừng nét chữ của con gái tôi đây mà.
Mở ra đọc, bà than lên một tiếng chua xót. Cô gái hỏi nguồn cơn thì đáp:
- Đây là thư con Ba báo tin nhà, nói rằng chàng Ngô chồng nó đã mất, nó nay trơ trọi không nơi nương tựa. Chưa biết tính thế nào.
Cô gái tiếp lời:
- Ban nãy anh ta có nói là chuyển giúp thư cho ai đó, may mà tôi chưa đuổi đi.
Bà già gọi chàng dậy, hỏi rõ nguyên ủy lá thư, chàng kể tình đầu mọi sự. Bà bảo:
- Xa xôi làm phiền lặn lội đưa thư, nay biết lấy gì báo đáp!
Lại ngắm kỹ chàng rồi cười, hỏi:
- Vì sao lại làm trái ý Xảo Nương?
Chàng đáp:
- Chẳng biết mình có tội gì.
Bà lại quay sang hỏi cô gái. Nàng than rằng:
- Chỉ thương cho mình, sống đã vớ phải anh chồng hoạn, chết cũng lại nhè đứa bị thiến mà ăn nằm. Vì thế mà buồn thôi.
Bà già quay lại nhìn chàng nói:
- Thông minh linh lợi thế này, vốn là “trống” mà hóa ra lại là “mái” ư? Thôi thì khách nhà tôi, không thể làm loại người khác mãi được.
Nói rồi dẫn chàng đi sang chái nhà phía Đông, đưa tay sờ xuống khố(1) mà khám nghiệm, rồi vừa cười vừa nói:

(1) Có bản là chữ “khố”, nghĩa là háng, bẹn.


- Chẳng trách Xảo Nương khóc hết nước mắt cũng phải. Nhưng may vẫn còn chút cuống rễ. Còn có thể cố sức được.
Bèn khêu đèn, lục hết hòm rương, lấy ra một viên thuốc màu đen trao cho chàng, bảo nuốt ngay, lại dặn nhỏ rằng đừng cử động. Rồi ra đi.
Còn lại một mình chàng nằm nghĩ ngợi, không biết thuốc chữa chứng bệnh gì. Chừng khoảng canh năm tỉnh dậy, cảm thấy dưới rốn một luồng hơi nóng cuồn cuộn xông thẳng vào chỗ kín, lại lùng nhùng như có vật gì treo ở khoảng dưới háng. Tự tay thăm dò thì hóa ra mình đã thành một gã trai cường tráng. Trong lòng mừng đến thảng thốt, giống như vị thượng quan thình lình được trao chín vật báu (2).

(2) Nguyên văn là “Cửu tích” tức chín vật tượng trưng cho sự cao sang, do vua ban cho bề tôi được phong chức trong triều.

Khi hừng đông lờ mờ ở chấn song thì bà già trở lại, đem bánh mới hấp vào buồng cho chàng, lại dặn hãy cứ ngồi yên, rồi khóa trái cửa lại, ra ngoài nói với Xảo Nương rằng:
- Anh chàng vất vả mang thư đến đây, hãy giữ lại đấy, gọi con Ba về, cho nó kết nghĩa “chị em”. Với lại, cũng phải đóng cửa để khỏi người ta buồn chán.
Nói rồi ra cửa mà đi.
Chàng quẩn quanh mãi đâm buồn, thỉnh thoảng lại đến gần khe cửa, y như con chim ngó trộm ra ngoài lồng. Trông xa thấy Xảo Nương cũng muốn gọi lại nói rõ sự tình, nhưng thẹn vì nói năng vụng về nên lại thôi. Mãi đến tối mịt bà già mới dẫn cô gái trở về. Vừa đẩy cửa đã lên tiếng:
- Để sầu muộn giết mất “lang quân”(1) rồi đây! Con Ba hãy vào mà bái tạ đi.

(1) Hai tiếng “lang quân” là một cách gọi trọng vọng thời xưa, để chỉ con em người khác, có thể là “chàng trai” hay “cậu”, nhưng cũng có nghĩa bóng gió là chồng, vì bà cụ nói thay cho con gái mình.

Cô gái gặp trên đường mấy bữa trước rụt rè bước vào, ngước nhìn chàng, mặt che sau tay áo. Bà mẹ bảo họ gọi nhau bằng anh em, Xảo Nương cười:
- Gọi là chị em cũng được.
Rồi cùng kéo nhau ra gian giữa, ngồi quây quần quanh mâm rượu. Uống được vài chén, Xảo Nương hỏi đùa:
- Người hoạn thấy sắc cũng động lòng chứ?
Chàng đáp:
- Thì “Chân què vẫn nhớ đến giày; Mắt lòa vẫn cứ loay hoay muốn nhìn” mà!
Ai nấy cùng cười rộ. Xảo Nương lấy cớ Tam Nương vừa đi đường mệt nhọc, ép cô phải đi nghỉ. Bà mẹ quay sang Tam Nương, bảo cùng nằm chung với chàng. Tam Nương xấu hổ mặt đỏ bừng không chịu đi. Bà mẹ bảo:
- Đây là trượng phu mà cũng là cân quắc, còn có gì mà sợ?
Rồi giục hai người vào buồng, lại dặn riêng chàng:
- Trong thì làm rể nhưng ngoài cứ vờ làm con ta cũng được.
Chàng mừng rỡ, nắm cánh tay nàng dắt lên giường. Như dao sắc mới mài lần đầu đem thử, khoái trá thế nào cũng có thể biết rõ. Trong lúc đầu gối tay ấp, hỏi nàng:
- Xảo Nương là người thế nào?
Đáp:
- Là ma đấy. Tài sắc vô song nhưng số phận lại thường gập ghềnh trắc trở. Lấy phải cậu út nhà họ Mao, bị bệnh liệt dương, mười tám tuổi đầu vẫn chẳng nên người. Vì thế ẩn ức không vượt được, ôm hận mà chết.
Chàng thất kinh, ngờ Tam Nương cũng là ma. Nàng nói:
- Nói thực với chàng, thiếp chẳng phải là ma, mà là Hồ. Xảo Nương sống lẻ loi không có đôi mà mẹ con thiếp lại không có nhà, nên mượn tạm căn nhà này ở nhờ.
Chàng rất ngạc nhiên. Nàng nói:
- Đừng ngại. Tuy là ma là hồ, nhưng không gây họa cho nhau đâu.
Từ đấy, hàng ngày thường cùng nhau chuyện trò, yến ẩm. Dẫu biết Xảo Nương chẳng phải là người mà lòng chàng vẫn quyến luyến nhan sắc. Chỉ hận một nỗi muốn tự hiến cho nàng, mà không có cơ hội. Chàng vốn người trầm tĩnh, lại giỏi chiều ý pha trò, nên dần dần được Xảo Nương rất thương.
Một hôm, mẹ con họ Hoa có việc đi vắng, lại đóng cửa nhốt chàng ở trong buồng. Chàng tức bực, loanh quanh trong nhà mãi rồi đứng cách lần cửa gọi Xảo Nương. Xảo Nương bảo con hầu đem chìa khóa ra thử, mấy lượt thì cửa mở. Chàng ghé tai xin gặp riêng. Xảo Nương bảo con hầu đi chỗ khác, chàng liền kéo nàng lên giường và nằm sát vào. Nàng đùa cợt, đưa tay sờ xuống phía dưới mà bảo:
- Đến là tiếc! Chỗ này lại khuyết mất rồi!
Nói chưa dứt lời thì tay đã chạm phải vật gì đó, tày một nắm. Nàng hoảng hốt kêu lên:
- Sao trước lờ mờ có thấy gì đâu mà nay đã lớn vổng lên nhanh thế?
Chàng cười đáp:
- Trước xấu hổ vì phải sắm vai khách nên nó rụt lại. Nay bị phỉ báng quá không chịu nổi, nên nó làm con ếch giận dữ(1) đấy thôi!

(1) Nguyên văn dùng điển “oa nộ”: theo Hàn phi Tử, vua Việt mấy lần muốn đánh Ngô, muốn cho quân lính hăng hái, nhân ra đường thấy một con ếch có dáng điệu giận dữ, liền cúi chào.

Bèn cùng nhau giao hoan. Xong xuôi nàng mới chợt nghĩ ra, tức tối nói:
- Thì ra nay mới biết đóng cửa là có duyên cớ. Hồi trước cả hai mẹ con lênh đênh không nơi nương náu, đã nhường nhà cho mà ở. Rồi Tam Nương theo học thêu thùa, cũng lại hết lòng bày vẽ, không giấu giếm tí gì. Thế mà nay lại sinh lòng đố kỵ thế đấy!
Chàng phải lựa lời khuyên giải, lại lấy tình thực mà nói, nhưng Xảo Nương vẫn hậm hực mãi. Chàng bảo:
- Giữ kín đấy nhé! Cô Hoa dặn tôi nghiêm lắm.
Nói chưa dứt lời thì Hoa Cô đã đẩy cửa bước vào.
Hai người vội vàng nhỏm dậy. Hoa Cô trừng mắt hỏi:
- Ai mở cửa?
Xảo Nương cười chặn lời, tự nhận mình mở. Hoa Cô càng giận, quát mắng mãi không thôi, Xảo Nương vẫn cười mỉa, đáp:
- Mẹ này mới thật nực cười chứ! Đã là trượng phu mà cũng là cân quắc thì còn làm gì được nữa?
Tam Nương thấy mẹ mình và Xảo Nương ra sức khích bác lẫn nhau, trong lòng không yên, bèn ra can ngăn, cả hai mới đổi giận làm lành, Xảo Nương lời lẽ dẫu gay gắt, nhưng xem ý từ đấy đã muốn nhún mình chiều lòng Tam Nương. Chỉ hiềm Hoa Cô ngày đêm canh phòng ráo riết, nên đôi tình nhân không thể tự do thổ lộ, chỉ biết đầu mày cuối mắt đưa tình mà thôi.
Một hôm, Hoa Cô bảo chàng rằng:
- Cả hai chị em chúng nó đều đã hầu hạ anh. Nhưng nghĩ lại, sống ở đây không phải là kế lâu dài. Vậy anh nên về trình với cha mẹ để sớm tính chuyện đính ước trăm năm thì hơn.
Liền đấy, bà sắm sửa hành trang, giục chàng lên đường. Hai cô gái nhìn chàng, mặt mày ủ rũ, mà Xảo Nương càng như không chịu nổi, lệ ròng ròng như châu sa, không lúc nào dứt. Hoa Cô ngăn họ lại rồi dẫn chàng ra đi. Vừa ra khỏi cửa thì lầu viện đã biến đâu mất, chỉ còn thấy một ngôi mộ hoang.
Hoa Cô tiễn chàng lên tận thuyền, nói:
- Sau khi anh đi, già này cũng sẽ dắt hai con gái đến trú ngụ ở quý ấp. Nếu không quên ước cũ thì xin đợi nhau trong đám vườn hoang nhà họ Lý để làm lễ nghênh hôn.
Chàng bèn trở về quê.
Bấy giờ ông già họ Phó đã tìm kiếm con trai hết cách. Đang giữa lúc lòng lo như lửa đốt thì bỗng thấy con về, mừng rỡ ngoài tưởng tượng. Chàng kể lại vắn tắt đầu đuôi, nhân nói cả việc đính ước của họ Hoa. Cha bảo:
- Lời nói của yêu quái sao đủ để tin. Mày sở dĩ còn toàn mạng trở về cũng chỉ vì bị tật nguyền, chứ không thì đã chết rồi.
Chàng đáp:
- Đám đó tuy khác loài nhưng tình cũng như người; huống nữa, lại thông minh, xinh đẹp, có lấy làm vợ cũng chẳng sợ họ hàng làng xóm chê cười.
Cha không nói gì, chỉ cười nhạt. Chàng bèn lui ra. Nhưng rồi vì ngứa nghề, không đành phận, bèn tư thông với con hầu. Dần dần giữa ban ngày cũng công khai giở trò dâm dật, có ý muốn làm cho câu chuyện kinh động đến tai cha mẹ. Một hôm, con hầu nhỏ trộm nhìn thấy, chạy đi báo với bà cụ. Bà cụ không tin, đến gần xem, bấy giờ mới đâm hoảng. Cho gọi con hầu đến hỏi, liền biết rõ sự thực. Mừng quá sức, gặp ai cũng nói toạc ra, để chứng tỏ con mình không có tật; rắp tính chuyện hôn nhân với nhà gia thế. Chàng nói riêng với mẹ:
- Không phải nhà họ Hoa không lấy đâu.
Mẹ nói:
- Trên đời thiếu gì gái đẹp, hà tất phải là quỷ với yêu.
Chàng đáp:
- Con ví không có Hoa Cô thì đâu biết mùi nguyệt hoa. Bội bạc người ta chẳng phải là điều hay.
Ông lão họ Phó nghe lời, cho một người tớ trai và một * già đến nơi xem xét. Ra khỏi thành Đông chừng bốn năm dặm thì tìm được thửa vườn hoang nhà họ Lý. Nhác thấy một làn khói bốc lên nghi ngút giữa một khóm trúc bên bức tường đã đổ nát, bà * liền trèo tường xuống, rảo thẳng đến cửa, thì bắt gặp mẹ con đang lau ghế, cọ nhà, như có ý chờ ai. Bà * vái chào, thưa rõ lời chủ dặn. Nhìn thấy Tam Nương, bà kinh ngạc bảo:
- Đây chính là vợ của tiểu chủ tôi sao? Tôi vừa thấy đã phải thương, không trách công tử mê mẩn như người mất hồn.
Rồi hỏi luôn đến cô chị. Hoa Cô than thở rằng:
- Đó là con gái nuôi của tôi. Ba hôm trước đây, cháu bỗng bị bạo bệnh tạ thế mất rồi.
Nhân đó đem rượu thịt ra thết đãi bà * và người tớ trai. Bà * về thuật rõ dung mạo, cử chỉ của Tam Nương. Cả ông bà đều vui mừng. Sau cùng mới nói đến tin Xảo Nương mất. Chàng nghe đau đớn muốn trào nước mắt. Đến đêm nghênh hôn, gặp mặt Hoa Cô, tự mình hỏi lại. Hoa Cô đáp:
- Đã đầu thai ở đất Bắc rồi.
Chàng than thở giây lâu. Đón Tam Nương về rồi mà rốt cuộc vẫn không sao dứt tình được với Xảo Nương. Hễ nghe có người nào ở kẻ Quỳnh mới đến đều cho gọi đến hỏi chuyện. Có người cho biết dưới mộ cô gái họ Tần đêm đêm vẫn nghe tiếng quỷ khóc. Chàng ngờ có sự lạ, vào bảo với Tam Nương. Tam Nương trầm ngâm một lúc lâu mà nói:
- Em phụ chị rồi!
Gạn hỏi lại thì đáp rằng:
- Thú thực lúc mẹ con thiếp ra đi, không nói cho chị ấy biết. Tiếng gào oán đó chẳng phải của chị ấy thì còn của ai nữa? Trước đã định bảo thật cho nhau, nhưng lại sợ phơi bày tội lỗi của mẹ.
Chàng nghe đoạn đổi buồn thành vui, lập tức cho sắm sửa xe cộ, ngày đêm vượt đường đi gấp; rồi đến trước mộ nàng, gõ vào tấm mộc chủ cắm ở mộ mà gọi to lên:
- Xảo Nương! Xảo Nương! Anh ở đây!
Giây lát thấy cô gái ẵm một đứa trẻ từ trong mồ chui ra, đau đớn ngước đầu lên, mắt nhìn ai oán không dứt. Chàng cũng ngậm ngùi rơi lệ. Sờ vào lòng hỏi con ai, Xảo Nương đáp:
- Đây là cái mầm oan nghiệt của chàng để lại. Đã được ba tháng rồi.
Chàng nói:
- Trót nhầm nghe lời Cô Hoa khiến mẹ con phải chôn chặt mối lo dưới lòng đất. Tội thật không tha thứ được.
Rồi cùng dắt díu nhau lên xe, băng vời vượt biển mà về. Ôm con vào trình mẹ. Mẹ nhìn đứa bé thấy mặt mũi khôi ngô, thân thể khỏe mạnh, không giống với loài yêu ma, càng thêm mừng rỡ. Hai cô gái sống hòa thuận, thờ bố mẹ chồng rất có hiếu, về sau ông Phó bị bệnh, mời thầy thuốc đến, Xảo Nương bảo:
- Bệnh không làm gì được nữa vì hồn đã lìa khỏi xác.
Nàng đôn đốc sắm đồ táng liệm, xong đâu đấy thì ông mất. Đứa bé lớn lên rất giống cha, phần thông tuệ còn trội hơn. Mười bốn tuổi đã vào học nhà phán. Ông Cao Bưu, hiệu Tử Hà, từng làm khách đất Quảng, nghe được chuyện này. Chỉ có tên làng xóm thì không nhớ đích xác, và chung cục câu chuyện ra sao cũng không được rõ.

Nguyễn Huệ Chi dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,486
Posts: 13695
Joined: 22 Mar 2009
 
 

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 18 Aug 2022

Ngũ Thu Nguyệt


Vương Đỉnh, quê ở Tần Bưu(1), tự là Tiên Hồ, người khảng khái, có sức khỏe, giao du rộng. Năm mười tám tuổi, vợ chưa cưới đã chết. Mỗi lần đi chơi xa, hàng năm không về. Anh là Nại, danh sĩ đất Giang Bắc, rất mực thương yêu em. Thường khuyên em không nên đi xa, ý muốn kén vợ cho. Chàng không nghe, thuê thuyền đến Trấn Giang thăm bạn. Bạn đi vắng, nhân thuê một gian gác nơi quán khách để trọ. Nước sông gợn sóng, núi Kim Sơn ở ngay trước mặt, bụng lấy làm thích lắm. Hôm sau người bạn đến, mời chàng dọn nhà về nhà mình ở, chàng từ chối không đi.

(1) Tức Cao Bưu. Một huyện thuộc tỉnh Giang Tô.


Ở già nửa tháng đêm nằm mộng thấy một cô gái tuổi chừng mười bốn, mười lăm, thùy mỵ, tình tứ, lên giường giao hợp với mình. Tỉnh dậy thì thấy di tinh. Chàng hơi lấy làm lạ nhưng cũng cho là ngẫu nhiên. Đến đêm lại nằm mộng thấy như thế; luôn ba bốn đêm, bụng rất kinh dị, không dám tắt đèn. Thân tuy nằm im trên giường mà bụng vẫn nơm nớp đề phòng. Vừa chợp mắt, đã mộng thấy người con gái lại đến. Đang ôm ấp bỗng giật mình tỉnh dậy. Vội mở mắt nhìn thì thấy một cô gái như tiên vẫn đang trong vòng tay mình. Nàng thấy chàng tỉnh dậy, hơi có ý thẹn, sợ. Chàng tuy biết không phải là người, nhưng trong bụng thì lại rất thích, nên không căn vặn gì, lại cùng nàng vần vũ thật lực. Cô gái hình như không chịu nổi, nói:
- Cuồng bạo như thế chả trách người ta không dám bảo rõ.
Chàng bấy giờ mới hỏi kỹ. Đáp:
- Thiếp họ Ngũ, tên là Thu Nguyệt. Thân phụ là danh nho, tinh thông Dịch số, thường rất thương yêu thiếp, nhưng nói mệnh thiếp không thọ, nên không hứa gả cho ai cả. Sau đến năm mười lăm tuổi, quả nhiên chết yểu, liền đào huyệt ở phía Đông gian gác này mà chôn bằng, không đắp nấm, cũng không có mộ chí, duy chỉ đặt bên quan tài một phiến đá, đề rằng “Gái Thu Nguyệt, chết không mồ, ba mươi năm sau gả về Vương Đỉnh”. Đến nay đã ba mươi năm, chàng đến vừa đúng. Trong bụng rất mừng, muốn hiến cho chàng, nhưng tấc lòng còn e thẹn nên phải mượn chiêm bao đó thôi!
Vương cũng rất mừng, lại đòi hành sự tiếp.
Nàng nói:
- Thiếp chỉ cần một ít dương khí để mong sống lại. Thực không ngại gì chuyện mây mưa ấy. Sau này duyên lành vô hạn, thì cứ gì phải đêm nay.
Bèn đứng dậy mà đi.
Đêm sau lại đến. Ngồi đối nhau, cười đùa vui vẻ như bạn bình sinh. Tắt đèn lên giường, không khác gì người sống. Có điều khi nàng đã dậy thì những giọt nước tiết ra, thấm đẫm cả chăn đệm.
Một đèm trăng sáng vằng vặc, cùng lững thững dạo bước trong sân. Đỉnh hỏi cô gái:
- Cõi âm cũng có thành quách chứ?
Đáp:
- Cũng như người cõi dương thôi. Thành phủ cõi âm không ở chỗ này mà cách đây ba bốn dặm, nhưng lấy đêm làm ngày.
Hỏi:
- Người sống có thể trông thấy không?
Đáp:
- Có thể.
Chàng xin đi xem, nàng bằng lòng.
Nhân lúc đêm trăng cùng đi. Cô gái nhẹ nhàng lướt đi như gió. Vương cố sức đuổi theo. Chẳng mấy chốc đến một nơi kia, nàng bảo:
- Không xa nữa.
Vương cố giương mắt nhìn nhưng chẳng thấy gì cả. Cô gái lấy nước bọt bôi lên hai mí mắt chàng, mở ra thì thấy mắt sáng gấp bội lúc bình thường, trong ban đêm không khác gì ban ngày. Chợt thấy một bức tường thành ẩn hiện trong đám sương mù, người đi trên đường tấp nập như đi chợ.
Một lát thấy hai tên lính trói ba bốn người giải đi qua, người đi cuối sao giống hệt anh mình vậy. Đến gần, quả là anh thật, kinh ngạc hỏi:
- Sao anh lại đến chốn này?
Người anh trông thấy chàng thì ứa nước mắt, nói:
- Anh cũng không biết việc gì mà bị bắt trói như tù.
Vương tức giận nói:
- Anh ta là người quân tử, biết giữ lễ nghĩa, sao đến phải trói như vậy?
Liền xin hai tên lính cởi trói cho. Lính không nghe, lại ngạo mạn, trừng mắt nhìn. Chàng phẫn, toan giằng nhau với chúng, người anh ngăn:
- Đấy là lệnh quan, ta cũng phải giữ phép. Chỉ hiềm ta thiếu tiền chi dùng, bị họ vòi của đút, khổ lắm. Em về, nên lo toan cho.
Chàng nắm lấy cánh tay anh, khóc thất thanh. Lính tức giận kéo mạnh cái tròng cổ, người anh liền ngã sấp xuống. Chàng trông thấy, lửa giận đầy ức, không thể nén được, liền rút thanh đao đeo bên mình, phạt đứt đầu một tên. Tên kia kêu thét lên, chàng lại giết nốt.
Cô gái kinh sợ nói:
- Giết sai nha nhà quan, tội không thể tha được. Nếu chậm, họa sẽ đến. Xin lập tức tìm thuyền về Bắc. Về nhà, chớ hạ lá phướn xuống, phải đóng cửa không cho ai vào. Quá bảy ngày sẽ không lo gì nữa.
Vương liền dắt anh đi, ngay đêm ấy thuê một chiếc thuyền nhỏ vội vã về Bắc. Về thấy khách khứa đến viếng ở cửa, mới biết là anh đã chết thật. Chàng liền đóng cổng khóa lại, rồi đi vào, anh đã mất hút; vào nhà thì người chết đã tỉnh lại, gọi: “Đói chết mất! Hãy đem mì nước lại đây!” Lúc đó, anh chết đã hai ngày; người nhà thảy đều kinh hãi. Chàng liền kể lại nguyên do. Bảy ngày sau, mở cửa, bỏ lá phướn đi, người ta mới biết ông anh sống lại. Bè bạn thân thuộc xúm đến hỏi thăm, chỉ trả lời chống chế.
Lại trạnh nghĩ đến Thu Nguyệt, tưởng nhớ thêm rầu.
Bèn lại quay xuống Nam, đến gian gác cũ đốt đèn lên ngồi đợi, cô gái vẫn không lại. Chập chờn toan ngủ, thấy một người đàn bà bước vào nói:
- Cô Thu Nguyệt nhờ nói lại với anh là hôm nọ hai tên công sai bị giết, hung phạm chạy mất, chúng bắt cô ấy đi. Hiện đang ở trong ngục. Bọn ngục tốt đối đãi tàn ngược. Ngày ngày trông chờ anh, anh nên nghĩ cách cứu giúp.
Vương buồn rầu phẫn uất, liền theo người đàn bà đi. Đến một tòa thành, vào cửa Tây, người đàn bà chỉ vào một cái cổng nói:
- Cô em bị tạm giam ở gian này.
Chàng bước vào, thấy nhà này buồng nọ cũng nhiều, tù phạm bị nhốt thật đông mà chẳng thấy Thu Nguyệt đâu. Lại vào một cửa nhỏ, thì thấy trong căn phòng hẹp có đèn lửa. Chàng ghé lại gần cửa sổ nhòm vào, thấy Thu Nguyệt ngồi trên giường, lấy ống tay áo che mặt mà khóc. Bên cạnh có hai tay ngục tốt đang sờ cằm vuốt chân nàng, để đùa ghẹo. Nàng khóc càng cuống quít. Một tên ngục tốt bá lấy cổ nàng nói:
- Đã là kẻ có tội còn giữ trinh tiết ư?
Chàng tức giận không nói không rằng, rút dao xông vào, chém mỗi đứa một nhát như người ta phạt gai, rồi đoạt lấy cô gái mà chạy ra, may không ai biết.
Vừa đến quán trọ bỗng giật mình tỉnh dậy. Còn đang lạ vì giấc mộng dữ, đã thấy Thu Nguyệt nước mắt giàn giụa đứng ở đó. Chàng kinh hoàng trỗi dậy, kéo nàng ngồi xuống, kể lại giấc mộng. Cô gái nói:
- Thật đấy, không phải là mộng đâu.
Chàng hốt hoảng hỏi:
- Thế thì làm thế nào?
Nàng thở dài đáp:
- Đấy cũng là cái số đã định. Thiếp vốn đợi ngày nguyệt tận mới là kỳ hạn sống lại. Bây giờ đã gấp thế này thì đợi làm sao được nữa. Xin chàng mau mau đào chỗ chôn thiếp lên, đưa thiếp cùng về, mỗi ngày gọi tên thiếp nhiều lần. Qua ba ngày có thể sống lại. Nhưng vì chưa đủ ngày, xương mềm chân yếu, không thể lo việc gạo nước trong nhà giúp chàng được.
Nói xong, gấp gáp toan đi, bỗng quay lại nói:
- Thiếp suýt quên. Nếu âm ty sai đuổi theo thì làm thế nào? Khi còn sống, cha thiếp có truyền cho một đạo bùa, nói rằng ba mươi năm sau có thể vợ chồng cùng đeo!
Liền lấy giấy bút vẽ hai đạo bùa và nói:
- Một đạo chàng đeo, còn một đạo xin dán vào lưng thiếp.
Chàng đưa nàng ra. Đến chỗ nàng biến thì đánh dấu lấy, đào độ hơn một thước thì thấy quan tài, gỗ đã mục nát, bên cạnh có tấm bia nhỏ, quả đúng như lời nàng nói. Mở quan tài ra xem, nhan sắc nàng vẫn như sống. Ôm vào buồng, quần áo theo gió tan hết. Dán bùa xong lấy chăn bọc chặt lại, cõng đến bên sông, gọi một chiếc thuyền đỗ bên bờ, nói thác rằng em gái ốm nặng, muốn đưa về nhà. May được gió Nam thổi mạnh, trời vừa sáng đã về đến cổng. Bê vào đặt nàng yên ổn rồi mới nói với anh chị. Cả nhà kinh ngạc nhìn nhau, cũng không ai dám nói thẳng là điều huyền hoặc.
Chàng mở chăn, gọi to “Thu Nguyệt”. Ban đêm thì ôm xác nàng mà ngủ. Thi thể nàng mỗi ngày một ấm dần, ba ngày thì sống lại, bảy ngày sau đã có thể đi lại được. Bèn thay quần áo ra chào chị dâu, phất phới chẳng khác gì thần tiên cả. Nhưng ngoài mười bước lại phải có người đỡ mới đi được, nếu không thì xiêu theo chiều gió, chỉ chực nghiêng ngả. Những người trông thấy đều cho rằng nàng có bệnh đó lại càng tăng thêm vẻ đẹp. Nàng thường khuyên chàng:
- Oan nghiệt của chàng quá dày, phải tích đức, tụng kinh sám hối đi. Nếu không e rằng không sống lâu.
Chàng vốn không tin Phật, bây giờ cũng thành tâm quy y. Về sau không việc gì cả.

Đỗ Ngọc Toại dịch




Image
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,486
Posts: 13695
Joined: 22 Mar 2009
 
 

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 18 Aug 2022

Cừu Đại Nương


Cừu Trọng, người đất Tấn(1), không còn nhớ ở ấp quận nào. Gặp cơn đại loạn, bị giặc bắt đem đi. Hai con Phúc và Lộc đang còn măng sữa. Vợ lẽ họ Thiệu, nuôi đôi trẻ mồ côi, sản nghiệp để lại may ra cũng được ấm no, nhưng đói kém mấy năm liền, lại bị cường hào lấn áp, đến nỗi miếng ăn thức uống hàng ngày không còn duy trì được.

(1) Tên một nước ở Trung Quốc thời xưa, nay thuộc về phía Bắc huyện Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây.

Người chú của Trọng là Thượng Liêm, nhìn thấy mối lợi trong việc cải giá của cháu dâu, thường khuyên nhủ Thiệu thị lấy chồng, nhưng nàng thề giữ chí, không chịu nao núng. Liêm ngầm mưu khoán cháu dâu cho một nhà đại tộc, định lấy thế cưỡng ép bắt nàng đi. Hai bên ước định đâu đấy cả rồi, mà người ngoài vẫn chưa ai biết.
Trong làng có tên Ngụy là đứa rất giảo quyệt, đểu cáng, vốn có hiềm khích lâu ngày với nhà Trọng; gặp việc gì cũng nghĩ cách để hãm hại. Nhân thấy Thiệu thị ở góa, bèn phao ra tiếng nọ điều kia để bêu xấu. Nhà đại tộc kia nghe được, cho Thiệu thị là người không có đức, bèn thôi. Lâu ngày, mưu mô của Liêm và tiếng đồn bên ngoài cũng dần dần đến tai Thiệu thị. Nàng trong lòng buồn bã uất ức, sớm chiều rơi lụy, rồi đến tay chân tê bại, nằm liệt trên giường. Phúc đã được mười sáu tuổi, nhân trong nhà không có người may vá, Thiệu thị bèn hỏi gấp vợ cho con. Vợ Phúc là con gái ông tú tài Khương Dĩ Chiêm, cũng là người làm ăn khá giỏi giang, xếp đặt mọi việc có ngăn nắp, nhờ đó ăn tiêu cũng tạm đầy đủ, nên mới cho Lộc đi học. Ngụy thấy thế thì đem lòng ghen ghét, nhưng ngoài mặt lại làm ra vẻ thân thiện. Nhiều lần, Ngụy mời Phúc đi uống rượu. Phúc bằng vào đấy, xem Ngụy như một người bạn tâm phúc. Ngụy thừa dịp nói rằng:
- Mẫu thân cậu còn nằm trên giường bệnh, không trông nom được việc nhà; cậu em thì chưa biết làm gì, chỉ ngồi ăn không. Hai vợ chồng nhà cậu tốt thế, mà sao lại làm trâu ngựa cho người ta? Khi nào cậu em cưới vợ thì còn tốn tiền tốn bạc rất nhiều. Tôi nghĩ hộ cậu một kế, chi bằng cậu nên sống ở riêng ra, có thế thì nghèo về em mà giàu sẽ về anh.
Phúc về nhà bàn với vợ, bị vợ mắng cho. Nhưng ngày một ngày hai, Ngụy nói ra nói vào, dần dần thấm thía, Phúc bị mê hoặc, bèn quyết ý đem việc ấy nói thẳng với mẹ. Mẹ giận, mắng chửi thậm tệ. Phúc càng tức tối, cho rằng đã thế thì không cần gì nữa, thóc tiền cũng chẳng qua như của người khác, cho nên mặc kệ, không đoái hoài đến. Ngụy thừa cơ, rủ Phúc đi đánh bạc, thóc trong kho ngày càng vơi, vợ biết mà chưa dám nói. Mãi đến lúc hết thóc ăn, mẹ kinh hãi hỏi vì sao, vợ mới nói thật. Mẹ giận lắm, nhưng cũng không biết làm sao, bèn cho ra ở riêng. Được cái may cô gái họ Khương là người hiền đức, mỗi ngày hai buổi thổi cơm hộ mẹ, và qua lại hầu hạ chẳng khác gì trước.
Phúc đã ở riêng, không còn kiêng nể gì nữa, tha hồ đắm mình vào cuộc đỏ đen. Chỉ trong vài tháng đã bán sạch ruộng nương để trả nợ chơi bời, mà mẹ và vợ vẫn chưa biết. Khi đã hết kiệt vốn liếng, Phúc không còn nghĩ được kế gì hơn, bèn đem vợ gán cho người ta để vay tiền, nhưng khốn nỗi không ai chịu nhận. Trong làng có tên Triệu Diêm La, nguyên là một tên trộm cừ khôi lọt lưới pháp luật, ngang ngược vũ đoán nhất làng. Nó vốn biết Phúc không dám nuốt lời nó, bèn khảng khái cho vay. Phúc cầm tiền đi, được vài ngày đã hết nhẵn. Còn trù trừ, rắp tâm bội ước, thì Triệu đã quắc mắt dòm ngang. Phúc sợ hãi, phỉnh vợ đến nhà Triệu. Ngụy nghe được, mừng thầm, chạy ngay sang mách với ông Tú họ Khương, ý nghĩ chuyến này thì họ Cừu tất phải đổ xiêu nghiêng ngửa. Họ Khương giận lắm, phát đơn đi kiện. Phúc hoảng quá liền bỏ trốn. Nàng Khương đến nhà Triệu mới biết là bị chồng lừa bán, khóc nức nở, chỉ muốn chết ngay. Lúc đầu Triệu còn dỗ ngon dỗ ngọt, nhưng nàng không nghe, Triệu ra oai nạt nộ thì nàng càng mắng chửi. Triệu giận quá, lấy roi đánh đập, nàng cũng không phục, rút trâm tự đâm vào cổ. Người nhà vội đến giật ra thì đã vào đến thực quản, máu phụt ra. Triệu vội vàng xé lụa quấn xung quanh cổ, chắc mẩm rằng cứ để thong thả rồi thế nào cũng khuất phục được.
Ngày hôm sau đã có trát đòi, Triệu vẫn dửng dưng, không lấy làm điều. Ra huyện, quan khám thấy vết thương của Khương thị rất nặng, truyền nọc Triệu ra để đánh đòn. Lính lệ dòm nhau, không dám ra tay. Quan vốn nghe tiếng Triệu ngang ngược đã lâu, thấy thế càng tin, bèn nổi giận, gọi người nhà ra, đánh Triệu chết tươi. Nhà họ Khương bèn gánh con gái về.
Mãi đến khi họ Khương đi kiện, Thiệu thị mới biết con mình khốn nạn như thế nào, hét lên một tiếng, cơ hồ đứt hơi, rồi mê man ốm nặng. Bấy giờ Lộc đã mười lăm tuổi, vò võ một mình không dựa vào đâu được.
Nguyên Trọng còn có một người con gái con đời vợ trước nữa tên là Đại Nương, gả chồng ở quận xa, tính khí cương cường, mỗi khi về thăm, cho ăn uống không vừa ý, thì ngỗ ngược với cha mẹ, nhiều khi giận dữ bỏ về, do đó Trọng giận và ghét; lại vì đường xa cho nên có khi vài năm mà không có một lần thăm hỏi. Khi biết bà Thiệu bệnh nguy, nên Ngụy bèn lập mưu gọi Đại Nương về để gây nên cuộc tranh giành của cải trong nhà họ Cừu. Vừa gặp một người lái buôn, ở cùng làng với Đại Nương, Ngụy thác cố nhắn tin cho Đại Nương, lại hý hửng rằng mọi mưu toan về gia đình này đã sắp thành tựu! Được vài ngày quả nhiên Đại Nương đến, đem theo một đứa con nhỏ. Vào cửa, thấy em nhỏ đang trông nom mẹ, cảnh tượng thật thảm đạm, nàng bất giác mủi lòng. Hỏi em Phúc ở đâu, Lộc kể hết đầu đuôi. Đại Nương nghe giận lắm nghẹn cả cổ, nói rằng:
- Nhà không có người lớn để cho người ta giày xéo đến thế! Ruộng nương nhà ta sao quân ăn cướp kia dám phỉnh gạt lấy hết!
Nói xong bèn đi xuống bếp, nhen lửa nấu cháo, bưng lên mời mẹ trước, rồi gọi em và con cùng ăn. Ăn xong, nàng hằm hằm ra đi, đến huyện nộp đơn kiện bọn đánh bạc. Chúng sợ, góp tiền để đút lót Đại Nương. Nàng nhận tiền, nhưng vẫn kiện. Huyện cho bắt tên Giáp, tên Ất v.v… đánh đòn và quở trách, nhưng không xử việc điền sản. Đại Nương vẫn căm, đem con đi thẳng lên quận. Quận thú(1) là người rất ghét cờ bạc. Đại Nương hết sức bày tỏ mọi nỗi cô khổ, cùng tình trạng bị bọn gian lừa đảo, lời lẽ thống thiết, làm cho quận thú động lòng, truyền cho huyện phải truy thu ruộng vườn mà cấp lại cho chủ cũ, và phải trừng phạt Cừu Phúc để làm gương cho những đứa hư hoang.

(1) Quan đầu quận, như tri phủ.

Sau khi trở về, viên quan huyện nhận được lệnh trên, ráo riết thi hành, nhờ đó điền sản thu về được hết. Bấy giờ Đại Nương góa chồng đã lâu, bèn cho đứa con nhỏ trở về nhà, bảo phải theo anh học làm ăn, đừng trở lại nữa. Đại Nương thì ở lại nhà mẹ, nuôi mẹ dạy em, xếp đặt trong ngoài ngăn nắp đâu vào đấy cả. Mẹ rất hài lòng, bệnh dần dần khỏi, việc nhà thảy đều giao cho Đại Nương. Bọn cường hào trong làng có lấn áp điều gì thì nàng vác dao đến tận cửa, cứng cỏi đấu lý, làm cho chúng phải chịu khuất. Được hơn một năm, ruộng vườn ngày càng tăng, thỉnh thoảng lại mua thuốc, bánh, thức ngon vật lạ gửi cho cô gái họ Khương. Lại thấy Lộc ngày càng trưởng thành, nàng bèn nhiều lần cậy mối lái tìm nơi cưới hỏi. Ngụy nói với mọi người rằng:
- Sản nghiệp nhà họ Cừu đều nằm trong tay Đại Nương cả, e rằng sau này không thu về được nữa.
Mọi người đều tin y, vì vậy không ai muốn nói chuyện hôn nhân với họ Cừu.
Có một công tử họ Phạm, tên là Tử Văn, nhà có một khu vườn nổi tiếng bậc nhất ở Tấn. Trong vườn, các loài hoa quý trồng hai bên đường chạy thẳng đến nội thất. Người nào không biết, đi nhầm vào đấy, gặp lúc công tử đang yến tiệc, thì ông nổi giận, cho là kẻ trộm, bắt trói lại đánh đập, gần chết mới thôi. Nhân gặp tiết thanh minh, Lộc từ trường học trở về, Ngụy bèn rủ đi chơi, lân la đến khu vườn của công tử. Người giữ vườn có quen biết với Ngụy, cho vào xem, ghé thăm khắp các nơi đình tạ. Bỗng đến một chỗ nước khe chảy xiết, trên có cầu vẽ, một hàng lan can đỏ, dẫn đến một cái cổng sơn đen, trông vào thấy hoa rậm như gấm. Đó là nhà trong của công tử. Ngụy phỉnh rằng:
- Cậu cứ vào trước, tôi phải đi giải một tí.
Lộc tin là thật, lững thững qua cầu vào cửa, đến một tòa lầu viện thì nghe tiếng con gái nô cười. Vừa mới dừng bước, thấy một con sen đi ra, dòm thấy chàng bèn quay gót trở vào ngay. Lộc bấy giờ mới thất kinh bỏ chạy. Giây lát sau, công tử bước ra, gọi người nhà lấy dây thừng đuổi bắt. Lộc quẫn quá, nhảy luôn vào giữa khe nước. Công tử thốt nhiên đổi giận ra cười, bảo người hầu xuống dắt Lộc. Thấy dung nhan và y phục của Lộc đều có vẻ phong nhã, ông bảo đem áo và giày ra cho thay. Rồi lại dắt Lộc vào một cái đình, gạn hỏi tên họ, dịu dàng nét mặt, êm đềm lời nói, có vẻ hết sức thân mật, xuề xòa. Một lát, công tử đi nhanh vào nhà trong, rồi trở ra ngay, cười cầm tay Lộc dắt đi qua cầu, dần dần đến chỗ ban nãy. Lộc không hiểu ý ra sao, dùng dằng không dám đi vào. Công tử cố kéo vào, thì thấy trong giậu hoa thấp thoáng có bóng mỹ nhân đang dòm ngó. Khi đã an tọa, thị tỳ dọn rượu ra. Lộc từ tạ, nói rằng:
- Cháu còn trẻ người non dạ không biết gì, đi nhầm vào chốn khuê môn, được ngài khoan hồng xá lỗi cho, như thế là đã ra ngoài mộng tưởng. Bây giờ chỉ mong được thả cho về sớm thì đội ơn vô cùng.
Công tử không chịu. Chốc lát, nem chả bày ra la liệt. Lộc lại đứng dậy, từ tạ là đã quá no say rồi. Công tử kéo ngồi xuống, cười nói rằng:
- Lão(1) có mấy chữ đặt tên cho phách nhạc(2), nếu cậu đối được thì xin để cậu đi ngay.

(1) Nguyên văn là “bộc”, đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, dùng với ý khiêm tốn.
(2) Phách là gõ nhịp, nghĩa rộng là cung đàn, bài đàn, hoặc cái đàn.


Lộc dạ dạ xin cho biết. Công tử nói:
- Phách đặt tên: “Chẳng giống tí nào”(3)

(3) Theo sách Tịch thượng hủ đàm của Du Đạm, đàn tỳ bà của Chiêu Quân bị hỏng, thuê thợ làm cái khác, nhưng làm bé quá. Chiêu Quân cười nói rằng: “Hồn bất tự!” (chẳng giống tí nào). Nhân đó, đặt tên cái đàn là: “Hồn bất tự”, về sau nói sai là “hồn bát tứ”.


Lộc ngẫm nghĩ hồi lâu rồi đối rằng:
- Bạc thành nén: “Biết làm sao được”(4)

(4) Theo Kiên biểu tập, Trương Tuấn và Vương Tuấn, trong nhà có nhiều bạc, mỗi nghìn lượng đúc thành một nén hình quả cầu, đặt tên là “Một nại hà” (biết làm sao được).

Công tử cười to lên mà rằng:
- Thật là Thạch Sùng(5) đấy!

(5) Thạch Sùng, người đời Tấn, giàu có ức triệu.


Lộc không hiểu ông nói gì. Nguyên công tử có một cô gái tên là Huệ Nương, xinh đẹp lại có học thức, đang kén chồng, đêm chiêm bao thấy có người bảo với mình sẽ lấy Thạch Sùng, hỏi ở đâu, thì nói rằng ngày mai sẽ rơi xuống nước. Sáng dậy, nàng nói chuyện lại với cha mẹ, mọi người đều lấy làm lạ. Việc Lộc đến vừa rồi rất hợp với giấc mộng, cho nên công tử mời chàng vào nhà trong để phu nhân và đàn bà con gái trong nhà xem mặt. Công tử nghe câu đối của Lộc thì rất mừng, nói rằng:
- Tên phách nhạc là con gái bé của lão đặt ra, cứ nghĩ mãi mà không đối được; bây giờ mới được câu đối hay, cũng là duyên trời. Lão có ý để cháu được làm người nâng khăn sửa túi cho cậu; vả chỗ tệ xá đây cũng còn nhiều viện, nhiều phòng, không dám phiền cậu rước dâu về bên nhà.
Lộc luống cuống từ tạ, viện lẽ rằng mẹ đang còn ốm, không ở gửi rể được. Công tử bảo hãy cứ về nhà bàn tính đã, rồi sai người giữ ngựa thắng ngựa, mang quần áo ướt và đưa Lộc về.
Về đến nhà, Lộc kể chuyện lại với mẹ, bà mẹ sợ hãi cho là việc bất thường; từ đó mới biết Ngụy là kẻ hiểm độc. Nhưng vì dữ mà lại hóa lành, nên cũng mặc, không đem lòng thù oán, chỉ khuyên con nên cắt đứt với y mà thôi. Qua vài ngày, công tử lại cho người đến ngỏ ý với bà mẹ; bà mẹ chung quy vẫn không dám nhận. Đại Nương bèn đứng ra nhận lời rồi mướn hai bà mối đi nạp thái(1). Chả bao lâu, Lộc đến gửi rể nhà công tử, được hơn một năm thì vào học nhà phán, lừng lẫy tài danh. Em vợ dần dần trưởng thành, không kiêng nể anh rể như trước, Lộc giận, đem vợ về ở nhà mình. Mẹ cũng đã chống gậy đi lại được; nhà có Đại Nương trông nom mấy năm liền, nhà cửa cũng được hoàn hảo. Nay cô dâu mới đã về, trong nhà đầy tớ con hầu tấp nập, rõ ràng là phong thái đại gia.

(1) Một nghi lễ trong cưới xin ngày xưa, nhà trai nộp đồ dẫn cưới cho nhà gái.

Tên Ngụy bị cự tuyệt lại càng ghen ghét, giận không tìm ra chút tỳ vết nào để hãm hại. Y bèn lôi kéo bọn lính đào ngũ vu cáo Lộc gửi tiền cho chúng. Thuở quốc sơ việc lập pháp rất nghiêm; theo lệnh trên, Lộc bị xử đi đày ra ngoài cửa ải(1). Phạm Công tử đút lót gửi gắm từ trên xuống dưới, mà kết quả chỉ miễn được việc đi đày cho Huệ Nương. Điền sản đều bị sung công. May sao Đại Nương cầm tờ giấy chia gia tài, dấn thân ra trước cửa quan cãi lý, có bao nhiêu thửa ruộng mới mua đều ghi tên Phúc cả, do đó mẹ con mới được ở yên. Lộc nghĩ mình đi không trở về bèn viết tờ ly hôn, gửi cho ông nhạc rồi vò võ lên đường. Đi được mấy ngày, đến phía Bắc kinh đô(2), vào ăn trong quán, thấy ngoài cửa có đứa ăn mày đứng khép nép, mặt mũi rất giống anh mình. Ra gạn hỏi thì quả anh thật. Lộc kể lại chuyện mình, anh em đều buồn thảm. Lộc mở áo lót, chia cho Phúc một ít tiền, bảo trở về nhà. Phúc rơi lụy từ biệt.

(1) Có bản chỗ này là: “Lúc bấy giờ có một vụ cướp lớn bị phát giác, bọn cướp đều trốn xa cả. Ngụy kiếm cách vu cho Lộc gửi tiền cho bọn cướp”.
(2) Có bản: “Bắc Đô”.


Khi đến cửa ải. Lộc sung làm lính hầu trong phủ một vị tướng quân. Vì Lộc là con nhà học trò, chân mềm tay vếu, nên được giữ việc biên chép, viết lách, cùng ăn ở với những người phục dịch khác. Khi họ hỏi đến gia thế, thì Lộc kể hết đầu đuôi; trong bọn có một người kinh ngạc nói rằng:
- Chính là con tôi đấy!
Nguyên trước kia bọn cướp bắt Cừu Trọng đi chăn ngựa cho chúng, sau đó cả bọn kéo ra đầu thú, rồi bán Trọng vào làm lính. Trọng bèn theo chủ ra đồn thú ngoài cửa ải(3). Trọng thuật lại cho Lộc rõ đầu đuôi, cha con mới nhận ra nhau, bèn ôm lấy nhau mà khóc. Mọi người đều thấy chạnh lòng.

(3) Các đoạn này đều có bản chép khác.


Rồi Trọng lại phẫn uất kêu lên:
- Chả biết đứa nào bỏ chạy sang miền Đông mà lại đổ thừa cho con ta!
Nhân đó kêu khóc với tướng quân. Tướng quân bèn giao cho Lộc viết một lá thư gửi đến vị thân vương trong triều, cho Trọng cầm về kinh đô. Trọng đến kinh, rình khi xa giá thân vương đi ra liền đến dâng thư tỏ bày oan khuất. Vị thân vương vì ông mà tâu xin lên vua, nên Lộc được minh oan(1); vua sắc chỉ cho quan địa phương chuộc lại ruộng đất giao về cho họ Cừu. Khi Trọng quay về, hai cha con người nào cũng vui mừng. Rồi Lộc hỏi kỹ số nhân khẩu trong nhà, để tính tiền chuộc cho bố, mới biết từ khi vào làm lính hầu, Trọng đã hai lần lấy vợ mà không sinh đẻ, bấy giờ lại đang ở góa. Lộc bèn sắm sửa hành trang mà trở về quê quán.

(1) Các đoạn này đều có bản chép khác.

Lại nói đến Phúc, sau khi từ giã em, về đến nhà, sụp lạy xin chịu tội. Đại Nương rước mẹ lên ngồi nhà trên, tự mình cầm hèo, hỏi Phúc rằng:
- Mày có tự nguyện chịu đòn, thì mới có thể tạm cho ở lại; còn như không muốn, thì ruộng vườn của mày đã hết sạch, đây không phải là chỗ mày đến tọng cơm được nữa, mời tếch ngay!
Phúc khóc lóc, phục xuống đất, xin chịu đòn. Đại Nương vứt cái hèo đi, nói rằng:
- Con người đã bán vợ, thì cũng chẳng trừng phạt làm gì nữa; nhưng án cũ vẫn chưa xóa, nếu tái phạm thì báo quan ngay!
Nói xong, nàng cho người sang báo tin cho họ Khương. Cô gái họ Khương dằn giọng nói rằng:
- Tôi có là người gì của nhà họ Cừu nữa đâu mà phải báo tin!
Đại Nương nhiều lần nhắc lại câu nói ấy để bêu xấu Phúc; Phúc hổ thẹn không dám lên tiếng.
Nửa năm trôi qua, Đại Nương tuy cho Phúc đủ ăn mặc, nhưng bắt làm việc nặng như đứa ở. Phúc cũng làm lụng mà không oán trách gì, có giao cho tiền bạc cũng không dám cẩu thả. Đại Nương xét thấy Phúc không có ý gì khác, bèn thưa với mẹ cho mời nàng Khương trở về. Mẹ nghĩ rằng không có cách gì làm cho cô ấy nghĩ lại được nữa. Đại Nương nói:
- Không phải thế. Nếu người ta có lòng nào thờ hai chồng thì đã chả tự chuốc lấy đau đớn khổ sở. Chứ chẳng ai mà lại không có cái giận như vậy!
Rồi nàng thân hành đem em trai sang chịu tội bên nhà vợ. Ông nhạc, bà nhạc trách mắng đến điều. Đại Nương nạt Phúc, bảo phải quỳ xuống rồi mới xin mời vợ ra gặp. Mời đến ba bốn lần mà nàng vẫn khăng khăng tránh mặt không chịu ra. Đại Nương vào nhà tìm, kéo ra, thì nàng chỉ vào mặt Phúc mà mắng nhiếc tàn tệ. Phúc thẹn toát mồ hôi, không còn cách gì dung thứ được cho mình. Bà cụ họ Khương mới kéo Phúc, bảo đứng dậy. Đại Nương xin cho biết ngày nào thì vợ Phúc sẽ trở về. Nàng nói:
- Từ trước đến nay chịu ơn của chị đã nhiều, nay chị dạy như thế, đâu dám trái lời, nhưng chỉ sợ không giữ được cho em khỏi bị bán lần nữa. Vả chăng ân nghĩa đã dứt hẳn rồi, còn mặt mũi nào mà ăn ở với đứa vô lại, lòng đen như mực ấy. Muốn xin với chị dọn riêng cho một căn nhà, cho em sang đấy để phụng dưỡng mẹ già, còn hơn cạo đầu đi tu, thế là đủ rồi!
Đại Nương bày tỏ lòng hối hận của Phúc và ước hẹn ngày mai đến rước, rồi từ biệt. Sáng hôm sau, nàng cho xe sang đón em dâu về. Bà mẹ ra tận cửa quỳ lạy, nàng Khương cũng sụp lạy mà khóc to lên. Đại Nương khuyên can, rồi dọn tiệc rượu để ăn mừng, cho Phúc ngồi bên cạnh bàn. Đoạn nàng nâng cốc nói rằng:
- Sở dĩ tôi phải tranh giành khổ sở, không phải là cốt mưu lợi cho mình. Nay em đã biết hối cải, vợ hiền đã trở về, vậy tôi xin đem sổ sách giao lại. Tôi đến tay không, bây giờ lại trở về tay không.
Vợ chồng đều rời bàn tiệc đứng dậy, nghiêm nét mặt, sụp lạy mà khóc lóc. Đại Nương bèn thôi. Chưa được bao lâu thì cái lệnh rửa oan đã về đến nơi. Chỉ trong vài ngày, ruộng vườn lại trở về chủ cũ hết. Tên Ngụy kinh hãi, không hiểu ra sao, chỉ biết tự giận mình không còn kế gì để mà thi thố. Chợt nhà láng giềng phía Tây phát hỏa, Ngụy lấy cớ chữa cháy chạy sang, rồi ngầm lấy một mồi rơm đốt nhà Lộc; gió lại thổi mạnh, cháy lan gần hết, chỉ trừ hai ba căn nhà của Phúc. Cả nhà phải dời sang ở chung. Ít lâu sau đấy thì Lộc về, gặp nhau mừng mừng tủi tủi. Trước kia, Công tử họ Phạm nhận được tờ ly hôn, đem bàn với Huệ Nương, Huệ Nương khóc lóc, xé thư vứt xuống đất. Cha nàng cũng chiều lòng, không ép nữa. Khi Lộc về, biết nàng chưa cải giá, mừng lắm, đến ngay nhà ông nhạc. Công tử biết nhà Lộc mới bị hỏa tai, muốn giữ ở lại, Lộc không chịu, cáo từ ra về. May Đại Nương có vàng riêng, bỏ ra sửa chữa nhà cháy. Phúc vác cuốc thuổng đi đào đất đắp nền, tìm thấy một hố tiền chôn. Đến đêm, cùng với em ra đào hố lên: một cái bể xây bằng đá dài vừa một trượng, toàn đựng tiền đồng. Nhờ đó khởi công làm nhà mới, dựng lên tòa ngang dãy dọc, tráng lệ không kém đại gia. Lộc cảm phục ơn nghĩa của tướng quân, để sẵn ngàn vàng để đi chuộc cha. Phúc xin đi. Nhà cho một đầy tớ trai lực lưỡng theo hầu. Lộc bèn đón Huệ Nương trở về.
Chẳng mấy chốc, cha và anh cùng về, một nhà vui vẻ tưng bừng. Đại Nương từ khi về ở nhà mẹ, thì cấm con đến thăm, để tránh tiếng, nay cha đã về, liền quyết ý xin đi. Anh em không nỡ để chị đi. Cha bèn chia gia sản làm ba, con trai hai phần, con gái một. Đại Nương từ tạ không chịu nhận. Phúc và Lộc ứa nước mắt mà bảo:
- Hai em không có chị thì làm gì được có ngày nay!
Đại Nương mới bằng lòng, cho người đi gọi con, dọn nhà về ở chung. Có người hỏi Đại Nương rằng:
- Chị em khác mẹ, sao mà gắn bó như vậy?
Đại Nương nói:
- Biết có mẹ mà không biết có cha, chỉ có giống cầm thú mới thế thôi! Đã là người, lẽ nào lại bắt chước giống vật!
Phúc và Lộc nghe nói đều chảy nước mắt. Rồi khoán thợ làm nhà cho Đại Nương, cũng rộng lớn như nhà mình.
Tên Ngụy nghĩ bụng rằng: trong hơn mười năm, mình tìm cách gây họa cho người, mà hóa ra lại càng gây phúc cho người, lòng khôn xiết hổ thẹn và áy náy. Thấy họ Cừu giàu có, Ngụy lại sinh lòng ngưỡng mộ, muốn làm thân, bèn lấy cớ Trọng mới về, sắm lễ vật sang mừng. Phúc muốn khước đi, nhưng Trọng không nỡ phật ý, nên nhận lĩnh gà và rượu. Gà có buộc dây vải ở chân, sổng ra chạy vào bếp, lửa bén vào dây vải, gà nhảy lên đống củi đậu, lũ tiểu đồng, con hầu nhìn thấy cũng không để ý. Một chốc, củi bốc cháy căn nhà, mọi người hoảng sợ, may mà đông người nhiều tay dập tắt được, nhưng đồ đạc trong bếp đã cháy hết. Anh em đều bảo con người đó là không lành. Sau đó, gặp lễ thọ của cha. Ngụy lại dắt một con dê đến biếu. Từ chối không được, phải buộc dê vào một gốc cây ngoài sân. Đến đêm, một đứa tiểu đồng bị tên người nhà đánh đập, tức giận chạy đến gốc cây mở dây buộc dê thắt cổ mà chết. Anh em than rằng:
- Nó làm phúc cho mình chẳng bằng nó gây họa cho mình!
Từ đấy, tuy Ngụy vẫn ân cần, nhưng bên nhà Trọng cũng không dám nhận đến một cây kim sợi chỉ. Sau Ngụy về già, nghèo đến nỗi phải đi ăn mày. Trọng lấy ân giả oán, thường đem vải và thóc chu cấp cho.

Cao Xuân Huy dịch



Image
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,486
Posts: 13695
Joined: 22 Mar 2009
 
 

Next

Return to Truyện Ðọc



Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 7 guests