Liêu Trai Chí Dị

Truyện tình mùi mẫn, truyện ma kinh rợn hay các thể loại khác. Xin mời vào.

Moderators: Mười Đậu, SongNam, A Mít

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 18 Aug 2022

Tiểu Thúy


Quan thái thường họ Vương, người đất Việt(1), lúc còn trái đào, ban ngày nằm ngủ trên sập. Bỗng trời tối sầm, sấm sét nổi lên ầm ầm, một con vật to hơn con mèo đến nằm phục bên cạnh mình, quanh quẩn mãi không rời. Một lúc trời quang tạnh, con vật liền bò đi, Nhìn xem, không phải là mèo, mới sợ, gọi anh ở buồng bên, anh nghe thấy, mừng nói:

(1) Tên một nước thời cổ, nay thuộc huyện Hàng, tỉnh Triết Giang.

- Em tất sẽ hiển quý to. Đấy là giống hồ đến tránh sấm sét đó.
Sau quả nhiên tuổi trẻ đỗ tiến sĩ, rồi từ huyện lệnh vào kinh làm thị ngự. Sinh được một trai là Nguyên Phong, rất mực ngây ngô, mười sáu tuổi vẫn chưa biết thế nào là đực cái, vì thế mà người quanh vùng không ai gả con cho. Vương lo lắm.
Chợt có người đàn bà đưa một cô gái đến nhà, tự xin gả cho Nguyên Phong. Trông người con gái, thấy nhoẻn cười tươi xinh, thật là phẩm tiên. Vương mừng, hỏi họ tên. Tự nói là họ Ngu, con gái tên Tiểu Thúy, tuổi vừa đôi tám. Bàn đến tiền sính lễ nói:
- Trước đây, nó ở với tôi, rau cháo không đủ no, nay một sớm được gửi thân chốn nhà cao cửa rộng có kẻ hầu người hạ, thừa miếng ngon của lạ, nó được vừa ý mà tôi cũng thỏa nguyện, có phải bán rau đâu mà nói giá!
Phu nhân mừng lắm, tiếp đãi rất hậu. Người đàn bà liền bảo cô gái lạy Vương và phu nhân, dặn rằng:
- Đây là bố chồng, mẹ chồng của mày, phải hầu hạ cẩn thận. Ta vội lắm, phải đi, vài ba hôm nữa sẽ trở lại.
Vương sai đầy tớ thắng ngựa đưa về. Người đàn bà nói:
- Làng tôi không xa, không dám phiền bày vẽ.
Bèn ra cửa mà đi.
Tiểu Thúy cũng không có vẻ buồn bã quyến luyến, liền mở hòm lấy đồ trang sức ra. Phu nhân cũng yêu thích cô gái lắm.
Mấy hôm sau, người đàn bà không đến. Hỏi quê quán, cô gái cũng ngớ ngẩn, không nói rõ được đường sá thế nào. Bèn sắp đặt cho một căn nhà riêng, cho vợ chồng làm lễ thành hôn. Họ hàng nghe thấy Vương vơ quàng con nhà bần tiện làm dâu ai cũng chê cười. Khi trông thấy cô gái thì đều kinh ngạc; những lời bàn tán từ đó mới thôi.
Cô gái lại rất thông minh, biết dò đón ý tứ mừng giận của bố mẹ chồng. Vợ chồng Vương yêu quý con dâu quá thói thường, lại áy náy chỉ sợ nó chê con trai mình ngây; thế mà cô gái vẫn một mực vui cười, không lấy thế làm điều. Chỉ có cái hay đùa; lấy vải khâu làm quả cầu, đá chơi; đi đôi hài da nhỏ, đá quả cầu xa đến vài chục bước rồi đánh lừa công tử chạy ra nhặt; công tử và thị tỳ thường toát mồ hôi chạy theo.
Một hôm, Vương tình cờ đi qua, quả cầu bỗng bay vụt đến, trúng ngay vào mặt. Cô gái và thị tỳ chạy mất, còn công tử vẫn nhảy nhót đuổi theo. Vương nổi giận, lấy đá ném, chàng mới lăn ra mà khóc. Vương đem chuyện kể với phu nhân, phu nhân sang mắng cô gái, cô gái cúi mặt cười tủm, lấy tay xoa mép giường. Phu nhân về rồi, lại đùa nghịch như trước, lấy phấn trát vào mặt công tử loang lổ như quỷ. Phu nhân trông thấy, giận lắm, gọi đến mắng thậm tệ. Cô gái tựa vào ghế, mân mê giải lưng, không sợ, cũng không nói năng gì. Phu nhân không làm thế nào được, nhân lấy roi đánh cậu con. Nguyên Phong kêu ầm lên, cô gái mới biến sắc, quỳ xuống xin tha. Phu nhân nguôi ngay cơn giận, vứt roi trở về. Cô gái vừa cười, vừa lôi công tử vào nhà, rũ hộ bụi ở quần áo, lau nước mắt, xoa những vết roi đòn, lấy táo và hạt dẻ cho ăn. Công tử bèn thôi khóc, lại vui ngay. Cô gái đóng cánh cửa thông ra sân, lấy mũ áo thắng bộ cho công tử đóng vai Bá Vương(1), làm người sa mạc, còn mình thì trang điểm, bó lưng lại(2), rồi súng sính múa điệu “Dưới màn”. Hoặc có khi lấy lông đuôi chim trĩ, cài vào mái tóc, gẩy đàn tỳ bà, tiếng tình tang réo rắt mãi; cả nhà cười vang; lâu ngày coi là thường. Vương thấy con mình ngây, không nỡ trách dâu, dù thoảng nghe thấy cũng bỏ qua.

(1) Tức là Tây Sở Bá Vương Hạng Võ.
(2) Có bản: “đóng vai Ngu mỹ nhân”. Ngu mỹ nhân tức Ngu Cơ, thiếp yêu của Hạng Võ.

Cùng ngõ, có một viên quan Cấp gián(3) họ Vương, ở cách nhau hơn mười nhà, nhưng vốn không ưa nhau. Bấy giờ, gặp lúc triều đình ba năm xét công các quan lại. Cấp gián ghen Vương được giữ ấn đạo Hà Nam(4), định bụng làm hại. Vương biết mưu hắn, lo nghĩ mà không có kế gì.

(3) Chức quan giữ việc can gián.
(4) Tức là làm giám sát ngự sử Hà Nam.


Một tối đi nằm sớm. Cô gái đội mũ đeo đai đóng giả làm tể tướng, cắt tơ trắng làm râu rậm, lại cho hai người thị tỳ ăn mặc giả làm quan hầu, rồi ngầm lấy ngựa mà cưỡi đi, nói đùa rằng đến thăm Vương tiên sinh.
Ruổi ngựa đến cổng nhà Cấp gián, tức thì lại lấy roi đánh người theo hầu, nói rằng:
- Ta đến thăm thị ngự họ Vương chứ đâu có đến thăm cấp gián họ Vương!
Quay ngựa mà về. Đến cổng nhà, người canh cổng ngỡ là thật chạy vào báo Vương. Vương vội dậy ra nghênh tiếp, mới biết là con dâu đùa. Giận lắm, bảo với phu nhân:
- Người ta đang rình từng kẽ hở của mình, mà mình lại đem cái xấu xa trong phòng khuê đến tận cổng nhà người ta mà tâu thì tai họa đến nơi rồi!
Phu nhân giận, chạy sang nhà cô gái mắng thậm tệ, cô gái chỉ ngớ ngẩn cười, chẳng cãi lại câu nào. Đánh không nỡ mà đuổi thì không cửa không nhà, hai vợ chồng buồn bực suốt đêm không ngủ.
Thời bấy giờ, quan tể tướng nọ rất hách, nghi vệ, phong thái, xiêm áo, quan hầu so với những cái giả trang của cô gái thì không khác chút gì. Vương cấp gián cũng nhầm, tưởng là thật. Mấy lần sai người đến tận cửa nhà Vương dò, mãi đến nửa đêm mà chưa thấy khách ra, ngờ rằng tể tướng với Vương có mưu ngầm. Hôm sau vào chầu sớm, gặp mặt hỏi rằng:
- Đêm qua tướng công đến nhà ngài đấy ư?
Vương ngỡ là hắn giễu mình, chỉ đỏ mặt dạ dạ, không nói thêm nữa. Cấp gián càng nghi, không dám mưu hại nữa, mà từ đó càng cố kết giao lấy lòng với Vương. Vương dò biết sự tình, mừng thầm, nhưng vẫn dặn ngầm phu nhân khuyên cô gái sửa đổi những việc làm trước. Cô gái cười xin vâng.
Hơn một năm sau, tể tướng bị bãi. Liền đó có người viết thư riêng cho Vương, lại gửi nhầm vào nhà Cấp gián. Cấp gián mừng lắm. Trước hãy nhờ người quen biết Vương đến hỏi mượn một vạn lạng vàng. Vương từ chối. Cấp gián thân hành đến nhà. Vương tìm khăn áo, mãi cũng không thấy. Cấp gián đợi lâu, giận Vương xược với mình, bực tức định quay ra. Bỗng thấy công tử, áo cổn mũ miện, có người con gái từ trong cửa đẩy ra. Cấp gián hãi quá, đoạn rồi lại cười và vỗ về công tử, lột lấy áo mão của chàng mang đi.
Vương vội ra, thì khách đã đi xa; nghe kể duyên do, sợ mặt nhợt như đất thó, khóc òa lên mà rằng:
- Đây là họa nàng dâu(l) đây. Bất nhật sẽ giết cả họ ta thôi!

(1) Nguyên văn: “thủy họa”, lấy điển từ chuyện Triệu Phi Yến đời Hán, ý nói đức của vua Hán như “hỏa” mà Triệu Phi Yến như “thủy” làm tắt hỏa. Chúng tôi dịch thoát.


Liền cùng phu nhân vác gậy chạy sang. Cô gái đã biết trước, đóng chặt cửa, tha hồ cho chửi mắng. Vương giận, lấy búa phá cửa. Cô gái ở trong nhà mỉm cười nói:
- Thầy chớ giận. Có con dâu ở đây, đao kiếm búa rìu con dâu cũng xin chịu, quyết không để lụy đến thầy mẹ. Thầy làm thế là muốn giết dâu để bịt miệng nhân chứng ư?
Vương bèn thôi.
Cấp gián về, quả dâng sớ tâu Vương mưu phản, đem mũ miện áo cổn ra làm bằng. Chúa thượng giật mình, xét nghiệm ra thì mũ miện làm bằng lõi cây cao lương, áo bào khâu bằng vải nát lấy ở khăn bao vàng. Vua giận Cấp gián vu cáo, lại cho triệu Nguyên Phong đến, thì thấy dáng điệu ngây ngô lộ rõ, mới phì cười, nói:
- Thế này mà cũng làm vua được ư?
Bèn giao việc cho pháp ti xét. Cấp gián lại kiện nhà Vương có yêu quái. Pháp ti tra hỏi nô tỳ trong nhà, đều nói không có ai, chỉ có nàng dâu điên và anh con trai ngây, suốt ngày cười đùa. Hàng xóm láng giềng cũng không khai gì khác. Bấy giờ án mới định; Cấp gián bị sung làm lính ở Vân Nam.
Vương từ đấy mới biết cô gái là kỳ dị, lại thấy mẹ nàng lâu không đến, ngờ không phải người trần. Bảo phu nhân dò, nàng chỉ cười không nói. Hỏi gạn mãi thì bưng miệng đáp:
- Con là con gái Ngọc Hoàng, mẹ không biết ư?
Không bao lâu, Vương được thăng quan trong kinh.
Ngoài năm mươi tuổi vẫn lo không có cháu. Cô gái ăn ở đã ba năm mà đêm đêm vẫn nằm riêng, hình như chưa có sự chung chạ gì. Phu nhân sai khiêng sập đi, dặn công tử nằm chung với vợ. Được vài hôm, công tử nói với mẹ:
- Mượn sập của con mang đi, sao không mang trả? Tiểu Thúy cứ đêm đêm gác chân lên bụng, thở chả được, lại quen tay, cứ cấu vào đùi người ta nữa!
Con hầu, * ở, không ai nhịn được cười; phu nhân nạt, phát cho mấy cái, bảo đi.
Một hôm cô gái tắm ở trong buồng, công tử trông thấy đòi tắm chung, cô gái bật cười ngăn lại, dỗ bảo đợi một lúc. Ra rồi nàng mới thay nước nóng đổ vào vại, cởi quần áo chàng ra, cùng thị tỳ đỡ vào. Công tử cảm thấy hơi nóng ngột ngạt hét lên đòi ra; cô gái không nghe, lấy chăn trùm lên. Một lát, không thấy kêu nữa, mở ra xem thì đã tắt thở. Nàng vẫn cười nói thản nhiên, không sợ, kéo ra đặt lên giường, lau khô mình mẩy, đắp thêm chăn cho. Phu nhân nghe thấy, vừa khóc vừa chạy vào, mắng:
- Con điên kia, sao giết con tao?
Cô gái nhoẻn cười đáp:
- Con ngây như thế chẳng thà không có.
Phu nhân càng giận, lấy đầu hức cô gái, bọn thị tỳ xô vào kéo ra khuyên can. Đương lúc ồn ào, một con thị tỳ chạy đến bảo:
- Công tử rên được rồi!
Phu nhân thôi khóc, sờ vào mình con thì thấy hơi thở nhè nhẹ và mồ hôi ra như tắm, ướt cả chăn chiếu. Một lát mồ hôi không chảy nữa, bỗng mở mắt trông bốn bên, nhìn khắp gia nhân như không quen ai cả, nói:
- Bây giờ nhớ lại những việc trước, cứ như nằm mộng! Sao vậy nhỉ?
Phu nhân nghe câu nói không có vẻ ngây, lấy làm lạ lắm, dắt về thăm bố. Hỏi thử mấy lần, quả không ngây. Mừng rỡ như bắt được của báu. Đến tối sai khiêng trả sập về chỗ cũ, sắp sửa chăn gối để xem sao. Công tử vào buồng, đuổi hết thị tỳ đi. Sáng ra, ngó xem thì sập vẫn bỏ không. Từ đấy, không thấy ngây và điên nữa, mà sắt cầm hòa hợp quấn quít như hình với bóng.
Hơn một năm, Vương lại bị bè đảng của Cấp gián đàn hặc, xin bãi chức; câu chuyện có phần mờ ám. Trước kia, quan trung thừa(1) Quảng Tây có tặng Vương một cái bình ngọc, giá đáng nghìn vàng, bấy giờ định đem ra để đút lót quan trên. Cô gái cũng thích, cầm chơi, bỗng tuột tay rơi vỡ, xấu hổ, chạy đến tự thú. Vợ chồng Vương đang buồn về nỗi phải cách quan, nghe thế giận lắm, cùng nhiếc mắng thậm tệ. Nàng trỗi dậy đi ra, nói với công tử:

(1) Tức là tuần phủ.

- Tôi ở nhà anh, những cái bảo toàn được không phải chỉ một cái bình, sao không nể mặt nhau một chút? Nói thực với anh: tôi không phải là người. Vì mẹ tôi gặp nạn sấm sét, ơn sâu được thầy che chở, lại vì đôi ta vốn có duyên phận năm năm với nhau, cho nên tôi đến đây để đền ơn, và cũng để cùng anh trọn nguyền đấy thôi. Thân tôi bị nhiếc mắng đã nhiều, nhổ tóc mà đếm cũng không xuể, sở dĩ không đi ngay là vì cái duyên năm năm chưa trọn. Bây giờ thì làm sao còn nán lại được nữa!
Đoạn hầm hầm bước ra. Đuổi theo thì đã biến mất. Vương ngẩn người ra, hối hận đã không kịp nữa. Công tử vào trong nhà, nhìn phần thừa, giày cũ, khóc lóc muốn chết; ăn ngủ không ngon, ngày càng gầy mòn héo hắt. Vương lo lắm, vội toan cưới vợ khác cho con để giải phiền, mà công tử không vui, chỉ tìm thợ vẽ giỏi vẽ tranh Tiểu Thúy, ngày đêm thắp hương khấn vái.
Gần hai năm sau, tình cờ có việc từ làng khác về. Trăng sáng vằng vặc. Ngoài thôn vốn có một khu vườn cảnh của nhà Vương; công tử vừa cưỡi ngựa đi qua bên ngoài tường, bỗng nghe có tiếng cười, liền dừng cương, sai đầy tớ nắm hàm thiếc rồi đứng lên trên yên trông vào, thì thấy hai người con gái đang chơi đùa trong đó. Vì bóng trăng bị mây phủ mờ mờ, trông không rõ lắm, chỉ nghe một cô áo xanh nói:
- Con ranh này, phải đuổi ra ngoài cổng mới được!
Một cô áo đỏ nói:
- Mày đang ở ngay trong nhà tao, lại còn định đuổi ai?
Cô áo xanh nói:
- Con ranh, không biết thẹn. Làm vợ không đắt, bị người ta tống về, lại còn nhận vơ sản nghiệp của người ư?
Cô áo đỏ nói:
- Chẳng hơn cái đứa đến già vẫn không ai thèm ngó đến!
Nghe giọng nói giống hệt Tiểu Thúy, công tử vội cất tiếng gọi to. Cô áo xanh bước đi, nói:
- Tao không cãi vã với mày nữa, đức ông chồng nhà mày đã đến kia kìa.
Đoạn rồi cô áo đỏ đi ra, quả là Tiểu Thúy. Công tử mừng lắm. Cô gái bảo trèo lên tường để mình đỡ xuống, nói:
- Hai năm không thấy mặt mà đã xương gầy còn một nắm rồi!
Công tử cầm tay khóc, kể nỗi nhớ nhung. Cô gái nói:
- Thiếp cũng biết thế, nhưng chẳng còn mặt nào trông thấy người nhà được nữa. Hôm nay cùng chị cả chơi đùa, nào ngờ lại gặp nhau ở đây, mới biết duyên trước không thể tránh được.
Mời cùng về, nàng không nghe; xin nàng cứ ở lại trong vườn này thì bằng lòng. Công tử bèn sai đầy tớ chạy về thưa với phu nhân. Phu nhân giật mình đứng dậy ngồi kiệu đến, mở khóa vào. Cô gái chạy ra đón, sụp xuống lạy. Phu nhân nắm lấy cánh tay nâng dậy, chảy nước mắt nhận hết lỗi xưa, hồ như không thể dung thứ cho mình, nói:
- Nếu con không chấp chuyện cũ thì xin hãy cùng về cho mẹ vui tuổi già.
Nàng đáp rằng không được, lời lẽ quả quyết. Phu nhân lo ngôi đình tạ hoang vắng, định cho nhiều người đến hầu hạ. Cô gái cười nói:
- Con không muốn gặp ai cả, duy chỉ có hai đứa thị tỳ ngày trước, sớm tối theo con, không thể không quyến luyến chúng. Ngoài ra chỉ xin một người lão bộc coi cổng, còn thì không cần gì nữa.
Phu nhân thảy theo như lời nàng; lại nói thác rằng công tử dưỡng bệnh trong vườn, rồi hàng ngày cho mang thức ăn vật dùng ra mà thôi. Cô gái thường khuyên công tử lấy vợ khác, công tử không nghe; hơn một năm sau, sắc mặt, tiếng nói của nàng dần dần đổi khác, lấy bức vẽ ra so, rõ ràng là hai người. Lấy làm lạ. Cô gái nói:
- Trông thiếp bây giờ có đẹp như ngày xưa nữa không?
Công tử đáp:
- Bây giờ đẹp thì vẫn đẹp, nhưng so với trước thì hình như không bằng!
Cô gái nói:
- Nghĩa là thiếp đã già rồi!
Công tử nói:
- Người ngoài hai mươi tuổi, làm gì lại già ngay được!
Cô gái cười, đốt bức vẽ đi, giật lại thì đã cháy thành tro. Một hôm nàng nói với công tử:
- Ngày trước khi còn ở nhà, cha thiếp thường bảo thiếp đến chết cũng không “làm kén” được(1). Bây giờ thầy mẹ đã già, chàng có một mình, thiếp thực không sinh nở được, sợ nhỡ việc nối dõi của chàng! Xin lấy vợ về nhà, sớm tối hầu hạ thầy mẹ, chàng đi lại cả hai nơi, cũng không có gì là không tiện.

(1) Ý nói đến già cũng không có con.


Công tử bằng lòng, nạp sính lễ ở nhà quan thái sử họ Chung. Gần đến ngày cưới, nàng tự khâu áo giày cho cô dâu, rồi đưa về chỗ phu nhân. Đến khi cô dâu vào cổng thì tiếng nói, nét mặt, cử chỉ không khác Tiểu Thúy chút nào. Chàng lấy làm lạ lắm. Trở lại khu vườn cảnh thì cô gái đã đi đâu không biết. Hỏi thị tỳ, thị tỳ đưa ra một chiếc khăn hồng, nói:
- Nương tử tạm về thăm bên ngoại, để lại vật này cho công tử.
Mở khăn, thấy có buộc cái “quyết”(1) bằng ngọc, bụng đã biết nàng không trở lại nữa, bèn đem cả thị tỳ cùng về. Tuy giây lát không quên được Tiểu Thúy nhưng may mà đối diện với vợ mới cũng như trông thấy người xưa. Mới chợt hiểu rằng cái duyên với cô gái họ Chung, Tiểu Thúy đã dự biết, nên thay đổi dáng mặt của nàng trước, để khuây khỏa nỗi nhớ của chàng ngày sau.

(1) Quyết là nửa cái vòng: lại có chữ “quyết” nghĩa là quyết đoán, quyết tuyệt. Hai chữ đồng âm, cho nên lấy cái quyết để tượng trưng cho sự quyết tuyệt.

Đỗ Ngọc Toại dịch


Image
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,248
Posts: 13638
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 18 Aug 2022

Thanh Phượng


Họ Cảnh ở Thái Nguyên(1) vốn trước là thế gia, cửa nhà rộng rãi bề thế. Về sau sa sút, lầu viện san sát bỏ hoang đến quá nửa. Nhân đó, sinh ra nhiều điều quái dị. Cửa vào nhà lớn cứ tự nhiên mở đóng, thường khi giữa đêm hôm, người nhà lại hốt hoảng xôn xao. Cảnh đâm lo, phải dời đến một cơ ngơi khác ở, chỉ để một ông lão ở lại canh cửa mà thôi. Từ đấy, cảnh hoang tàn đổ nát càng tệ hơn. Có người còn nghe cả tiếng nói cười đàn hát trong đó nữa.

(1) Một huyện thuộc tỉnh Sơn Tây.


Cảnh có người cháu ruột tên là Khứ Bệnh, tính cuồng phóng, không gì câu thúc nổi, dặn ông lão hễ nghe thấy gì thì chạy tới báo cho mình ngay. Đêm đó thấy trên lầu có ánh đèn lúc sáng lúc tắt, ông vội đến báo với chàng. Chàng muốn vào tận nơi xem cho biết sự lạ, ai ngăn cũng không được.
Cửa ngõ trong nhà, vốn đã thuộc hết, chàng bèn rẽ cỏ rậm, lần đường quanh co đi vào. Trèo lên lầu rồi, vẫn chưa thấy có gì lạ. Băng qua lầu đi quá vào trong nữa, thì nghe có tiếng người nói chuyện rì rầm. Lén nhòm xem, thấy hai ngọn đèn lớn thắp song song, sáng trưng như ban ngày. Một ông già khăn áo nhà nho, ngồi quay mặt hướng Nam; đối diện là một bà già, cả hai đều khoảng ngoài bốn mươi tuổi. Ngoảnh về hướng Đông là một chàng trai tuổi chừng hai mươi; bên phía tay mặt lại một cô gái, tuổi mới cập kê(1).

(1) Tuổi cài trâm, chừng mười lăm tuổi.


Ai nấy đang cùng ngồi vây quanh một bàn đầy rượu thịt, vui cười trò chuyện. Chàng đột ngột bước vào, cười, nói to lên rằng:
- Có một người khách không mời mà đến đây!
Cả đám cùng kinh hoảng chạy trốn, riêng ông già bước ra, quát hỏi:
- Ai mà lại dám xông vào buồng khuê nhà người ta thế?
Chàng đáp:
- Đây là buồng khuê nhà tôi, ông chiếm lấy. Có rượu ngon tự mình uống với nhau, không mời qua chủ nhân một câu, chẳng phải là bủn xỉn lắm sao?
Ông già ngắm kỹ một lượt rồi nói:
- Không phải chủ nhân mà.
Chàng nói:
- Tôi là đồ ngông, tên là Cảnh Khứ Bệnh, cháu ruột của chủ nhân đây.
Ông già vội kính cẩn đáp:
- Lâu nay vẫn ngưỡng mộ danh tiếng Thái Sơn, Bắc Đẩu!
Bèn đưa tay vái, mời chàng vào. Rồi gọi người nhà thay mâm cỗ. Chàng ngăn lại. Ông liền rót rượu mời khách. Chàng nói:
- Chúng ta hai nhà cũng như một, khách khứa cùng ngồi với nhau cần gì phải lánh mặt, xin mời cả ra cùng uống cho vui.
Ông già gọi “Hiếu Nhi”, giây lát chàng trai từ ngoài bước vào. Ông nói:
- Đây là thằng con tôi.
Vái chào rồi ngồi xuống. Hỏi thăm qua về gia thế, ông già tự nói mình tên là Nghĩa Quân, họ Hồ.
Chàng vốn tính hào hoa, nói năng bàn luận như gió. Hiếu Nhi cũng là người phóng khoáng, chuyện trò qua lại đã thấy mến nhau ngay. Chàng hai mươi mốt tuổi, hơn Hiếu Nhi hai tuổi, bèn gọi cậu là em. Ông già bảo:
- Nghe nói cụ tổ ngài khi xưa có soạn “ngoại truyện” về họ Đồ Sơn(1), ngài có biết chăng?

(1) Theo truyền thuyết, vua Vũ trị thủy, được người con gái họ Đồ Sơn, vốn là con cáo trắng chín đuôi giúp đỡ, sau lấy nàng làm vợ. Ông cụ đem câu chuyện này ra muốn kín đáo gợi ý với khách mình là hồ. “Ngoại truyện” là truyện chép thêm, không phải chính truyện.

Đáp:
- Thưa có biết.
Ông già nói tiếp:
- Chúng tôi là dòng dõi họ nhà Đồ Sơn đây. Từ đời Đường trở về sau, gia phả còn nhớ được, còn từ Ngũ Đại trở về trước thì thất truyền. Dám xin công tử làm ơn chỉ giáo cho.
Chàng kể qua công trạng của cô gái họ Đồ Sơn giúp vua Vũ thuở xưa(1), thêm thắt nhiều lời, lưu loát trôi chảy. Ông lão cả mừng, bảo con trai rằng:
- Hôm nay may mắn được nghe những điều chưa từng nghe bao giờ. Công tử đây cũng chẳng phải ai xa lạ, hãy vào mời mẹ và Thanh Phượng ra cùng nghe, để cho biết công đức của tổ tiên mình một thể.
Hiếu Nhi bước vào sau bức màn. Chốc lát, bà cụ cùng cô gái đi ra. Nhìn kỹ, thấy dáng liễu yêu kiều, làn thu ba lóng lánh, trên đời dễ không ai đẹp bằng. Ông già trỏ vào bà cụ nói:
- Đây là bà lão nhà tôi.
Lại trỏ sang cô gái nói tiếp:
- Còn đây là con Thanh Phượng, cháu gọi tôi bằng chú. Cũng có phần sáng dạ, hễ nghe được gì đều nhớ không quên. Cho nên gọi ra cho nghe cùng.
Chàng nói chuyện xong bèn uống rượu, mắt nhìn cô gái đăm đăm, không còn ngó đi đâu khác. Cô gái biết ý, bèn cúi đầu xuống. Chàng ngầm đặt chân lên mũi giày của nàng. Nàng vội thu chân lại, nhưng cũng không ra ý giận dữ. Bấy giờ tâm thần, ý chí của chàng đều bay bổng, không thể tự chủ được nữa, liền vỗ bàn mà nói:
- Được người vợ như thế này, dẫu đổi cho làm vua cũng không đổi.
Bà cụ thấy chàng đã có vẻ say, lại càng thêm ngông, bèn cùng cô gái đứng dậy, vén bức màn, bước vào. Chàng mất hết hứng thú, cũng từ biệt ông già ra về. Nhưng tơ lòng vấn vương, không sao quên được tình cảm của mình đối với Thanh Phượng.
Đến đêm, lại lần sang, thì hương còn thơm nức, mà chờ đợi đến hết đêm, tịnh không còn nghe một tiếng động nhỏ. Trở về bàn với vợ, muốn đem cả nhà sang ở hẳn bên đó, hầu mong lại có lúc được hội ngộ chăng. Vợ không nghe. Chàng cứ một mình dọn sang, học hành ở dưới lầu. Ban đêm đang ngồi tựa ghế, thì một con quỷ xõa tóc bước vào, mặt đen như sơn, trừng mắt ngó chàng. Chàng cười, nhúng ngón tay trỏ vào nghiên mực rồi tự bôi lên mặt, giương mắt thao láo mà nhìn lại. Con ma thẹn mà bỏ đi. Đêm hôm sau, canh đã khuya, vừa tắt đèn định nằm, nghe phía sau lầu có tiếng mở khóa, rồi tiếng kẹt cửa. Chàng vội trở dậy nhìn xem thì thấy cánh cửa hé mở. Giây lát, nghe có tiếng giày nhỏ nhẹ, lại có ánh đèn từ phòng trong đi ra. Nhìn sang, thì chính là Thanh Phượng. Bất chợt thấy chàng, nàng hoảng hốt trở lui vào, vội vã đóng hai cánh cửa lại. Chàng quỳ dài xuống, nói vọng vào:
- Tiểu sinh không nề hà khó khăn, nguy hiểm, thực cũng chỉ vì nàng. May gặp lúc không có ai, xin được cầm tay cười một tiếng, thì chết cũng không dám ân hận.
Cô gái từ trong nói ra:
- Thâm tình khăng khít, sao thiếp lại không hay, nhưng lời giáo huấn của chú ở chỗ khuê môn rất nghiêm, nên không dám vâng mệnh.
Chàng cố van nài:
- Cũng chẳng dám mong được thân cận kề da áp thịt, chỉ xin trông thấy nhan sắc cũng đủ lắm rồi.
Cô gái dường như có ý bằng lòng, mở then cửa bước ra, nắm lấy cánh tay chàng kéo dậy. Chàng mừng cuống, đem nhau xuống dưới lầu, ôm ghì lấy và đỡ lên ngồi trên đầu gối mình.
Nàng bảo:
- Cũng may có chút túc duyên, nhưng chỉ hết đêm nay thôi, sau dầu có nhớ nhau cũng không làm gì được nữa.
Chàng hỏi:
- Vì sao vậy?
Đáp:
- Chú thiếp sợ chàng ngông, nên giả dạng làm quỷ dữ để dọa chàng, mà chàng vẫn không nao núng; hôm nay tính dọn nhà đi nơi khác, cả nhà đều đã mang đồ đạc đến nơi ở mới, chỉ còn mình thiếp ở lại đây coi giữ, ngày mai cũng ra đi.
Nói xong, định lui gót, bảo rằng:
- Sợ chú về.
Chàng cố giữ lại, muốn cùng nàng giao hoan. Đương lúc còn giằng co, đối đáp, thì ông già ập vào. Cô gái vừa thẹn vừa sợ, không biết làm thế nào, chỉ cúi đầu đứng tựa thành giường, tay mân mê giải áo, không nói gì cả. Ông già giận dữ, mắng:
- Con tiện tì này làm nhơ nhuốc danh giá nhà tao! Không đi ngay, roi vọt quất vào lưng bây giờ!
Nàng cúi đầu vội vã bước ra. Ông già cũng đi theo. Chàng từ phía sau lắng nghe, tiếng chửi mắng vang lên không ngớt, rồi tiếng Thanh Phượng khóc rưng rức. Lòng đau như cắt, chàng cất tiếng nói to lên:
- Tội lỗi ở cả tiểu sinh đây, chứ Thanh Phượng có dự gì vào đấy? Hãy tha cho Thanh Phượng, bao nhiêu gươm đao rìu búa, một mình tiểu sinh xin chịu tất.
Một lúc lâu yên ắng, chàng bèn trở về giường ngủ.
Từ đấy, trong nhà tuyệt không còn nghe thấy tăm hơi gì nữa. Chú chàng được tin lấy làm lạ, vui lòng bán rẻ cơ ngơi đó cho chàng. Chàng mừng, đem cả gia quyến dọn sang. Được hơn một năm, vừa ý lắm, song vẫn chưa một lúc nào quên được Thanh Phượng.
Gặp tiết thanh minh, chàng đi tảo mộ, lúc trở về thấy hai con chồn con đang bị chó đuổi riết. Một con nhảy vào bụi rậm trốn thoát, còn một con chạy cuống quýt ở trên đường, từ xa trông thấy chàng, quẩn lại bên cạnh, kêu thương, cụp tai cúi đầu, dường như có ý cầu cứu. Chàng bỗng thấy thương, mở vạt áo bọc vào, đem về. Đến nhà, đóng cửa, đặt lên giường, thì ra là Thanh Phượng. Mừng quá đỗi, bèn an ủi và thăm hỏi. Nàng đáp:
- Vừa rồi, đang cùng con hầu đùa giỡn thì gặp phải nạn lớn. Nếu không có chàng, ắt đã táng mình vào bụng chó. Mong không vì khác loài mà ghét bỏ nhau.
Chàng đáp:
- Ngày đêm tưởng nhớ, hồn mộng vấn vương. Nay gặp nàng như bắt được của báu, có đâu lại nói đến ghét bỏ!
Nàng nói:
- Âu cũng là số trời. Nếu không vì gặp chuyện ngửa nghiêng thì đâu còn được theo nhau? Nhưng thế cũng lại là may, con hầu hẳn cho là thiếp đã chết, thì có thể cùng chàng đính ước bền lâu được.
Chàng mừng, dọn một căn nhà riêng làm chỗ ở cho nàng.
Cứ thế được hơn hai năm, một đêm, chàng đang đọc sách, chợt Hiếu Nhi ở đâu bước vào. Chàng ngừng đọc, ngạc nhiên, hỏi từ đâu đến. Hiếu Nhi sụp xuống đất, cất tiếng buồn thảm nói:
- Phụ thân tôi gặp nạn bất kỳ, phi anh ra không ai cứu nổi. Lẽ ra phải thân đến khẩn cầu, nhưng sợ không được tiếp, nên cho tôi đi thay.
Hỏi có việc gì thì đáp:
- Công tử có quen biết cậu Ba nhà họ Mạc không? Đáp:
- Người ấy là con nhà đồng niên(1) với nhà tôi.

(1) Tức là nhà có hai ông bố đỗ cùng khoa hoặc là bạn cùng tuổi.

Hiếu Nhi nói:
- Ngày mai cậu ta đi qua đây, nếu có đem theo một con chồn săn được, mong anh giữ lại cho.
Chàng đáp:
- Câu chuyện xấu hổ ở dưới lầu hồi nào, vẫn canh cánh mãi trong dạ. Còn những việc gì khác, không dám dự biết. Như muốn tôi đem hết sức hèn ra giúp, phi Thanh Phượng đến đây, không xong.
Hiếu Nhi rơi lệ đáp rằng:
- Em Phượng đã chết ngoài đồng từ ba năm nay rồi!
Chàng liền rũ áo, nói:
- Đã thế thì mối hận lại càng sâu nặng hơn thôi.
Rồi chàng cầm sách cao giọng ngâm nga, tuyệt không đoái nhìn gì đến nữa. Hiếu Nhi đứng dậy, khóc lạc cả giọng, che mặt bước ra.
Chàng liền đến căn nhà Thanh Phượng ở, kể cho nghe duyên cớ. Nàng thất sắc hỏi:
- Thế có cứu thật không?
Đáp:
- Cứu thì vẫn cứu, nhưng vừa rồi mà không nhận lời, là cũng để trả miếng chuyện ngang ngược hồi trước cái đã.
Nàng mới mừng rỡ nói rằng:
- Thiếp mồ côi từ bé, nhờ chú nuôi nấng mới trưởng thành. Ngày ấy, dẫu có mang lỗi với chàng, nhưng cũng là do phép tắc trong nhà mà phải thế.
Chàng nói:
- Đành là thế, nhưng cũng không khỏi làm người ta ấm ức trong lòng. Nàng mà chết thật, thì nhất định là không cứu đâu.
Nàng cười mà đáp:
- Nhẫn tâm nhỉ!
Ngày hôm sau, quả nhiên có chàng Ba họ Mạc đến, túi cung da hổ, đai ngựa chạm vàng, đầy tớ theo hầu rất hách. Chàng ra cửa đón tiếp, trông thấy các giống cầm thú săn được rất nhiều, trong đó có một con chồn đen, máu ướt đẫm cả da và lông, vỗ vỗ xem, da thịt hãy còn ấm. Bèn thác cớ áo cừu bị rách, hỏi xin để dùng vá áo. Mạc khảng khái cởi dây ra tặng chàng. Chàng liền giao ngay cho Thanh Phượng, rồi ra yến ẩm với khách. Khi khách đã về rồi, cô gái ôm con hồ vào lòng, ba ngày thì sống lại. Quay trở một lát, lại hóa thành ông già. Ngước mắt nhìn thấy Phượng, ngỡ mình không còn ở giữa cõi trần. Nàng lần lượt kể hết tình thực. Ông bèn sụp xuống lạy, thẹn thùng xin tạ lỗi xưa. Rồi mừng rỡ nhìn nàng mà nói:
- Ta vẫn cho là mày không chết, nay quả thế thật.
Cô gái nói với chàng rằng:
- Như chàng có lòng nghĩ đến thiếp, thì xin cho mượn chỗ nhà lầu, để thiếp được báo đáp chút tình riêng về công ơn nuôi nấng.
Chàng nhận lời. Ông già bẽn lẽn, giã biệt mà đi. Đến tối, quả mang cả nhà lại. Từ đó, như cha con trong một nhà, không còn điều gì nghi kỵ.
Chàng ở riêng chỗ nhà học. Hiếu Nhi thỉnh thoảng đến cùng chuyện trò. Con trai người vợ cả của chàng dần dần lớn lên, bèn nhờ Hiếu Nhi dạy dỗ, vì tính nết ôn tồn, chỉ vẽ khéo léo, thật có tư cách mô phạm của ông thầy.

Nguyễn Huệ Chi - Nguyên Đức Lân dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,248
Posts: 13638
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 19 Aug 2022

Trương Thành


Người họ Trương ở đất Di(1), tổ tiên là người Tề (2), cuối đời nhà Minh, nước Tề có loạn to, vợ bị quân giặc cướp đem về Bắc. Trương vẫn thường lui tới làm khách đất Dự, bèn làm nhà luôn ở đó. Lấy vợ người Dự, sinh con trai tên là Nột.

(1)Một trong chín châu thời xưa của Trung Quốc, nay thuộc tỉnh Hà Nam.
(2)Tên một nước ở Trung Quốc thời xưa. nay thuộc tỉnh Sơn Đông.

Không bao lâu vợ chết, lại lấy vợ kế, sinh con trai nữa tên là Thành. Vợ kế họ Ngưu, rất hung tợn, thường ghét Nột, nuôi Nột như đứa ở. Cho ăn toàn rau dưa hẩm hút. Sai đi chặt củi thì đòi hỏi cho được mỗi ngày một gánh. Nếu không thì roi vọt mắng chửi, không thể chịu nổi. Chỉ cất giấu những thứ ăn ngon ngọt cho Thành, lại cho vào trường tư để học.
Thành dần lớn lên, tính hiếu nghĩa, không nỡ thấy anh vất vả, lén khuyên can mẹ, mẹ chẳng chịu nghe. Một hôm, Nột vào núi lấy củi, chưa xong việc thì gặp mưa to gió lớn, phải ẩn mình dưới vách núi. Hết mưa thì trời đã tối, bụng đói cồn cào, bèn gánh củi về. Mẹ xem củi thấy ít, giận dữ, không cho ăn. Lửa đói đốt lòng, vào nhà nằm vật ra. Thành đi học về, thấy anh thờ thẫn, thì hỏi:
- Ốm sao?
Nột đáp:
- Đói thôi mà.
Thành hỏi nguyên do. Nột nói hết sự tình. Thành buồn rầu rồi ra đi. Một lúc sau đem bánh về cho anh. Anh hỏi bánh ở đâu ra. Thành nói:
- Tôi lấy trộm bột, mướn chị hàng xóm làm cho, hẵng cứ ăn đi, chớ nên nói gì cả.
Nột ăn xong dặn em rằng:
- Từ sau chớ làm như thế nữa, việc lộ thì liên lụy đến em. Vả lại, ngày ăn một bữa thì đói chứ không chết đâu!
Thành nói:
- Anh đã yếu sẵn rồi, sao có thể hái nhiều củi được?
Ngày hôm sau, ăn xong, lén vào núi, đến tận chỗ anh làm củi. Anh trông thấy giật mình, hỏi:
- Định làm cái gì thế?
Đáp:
- Định hái củi giúp anh.
Hỏi:
- Ai bảo em?
Đáp:
- Tôi tự đến mà thôi!
Anh nói:
- Không cứ là em không hái được, ví phỏng có hái được cũng không nên.
Thế rồi giục Thành về ngay. Thành không nghe, cứ lấy tay bẻ củi giúp anh. Lại nói:
- Ngày mai em phải đem búa đi!
Anh đến gần bảo thôi, thì thấy ngón tay bị toạc, giày bị rách, buồn rầu bảo em rằng:
- Mày không về nhanh, thì tao lấy búa tự chặt cổ mà chết đấy.
Thành bèn ra về. Anh đưa đến nửa đường, mới quay lại. Khi gánh củi về qua trường, dặn thầy học rằng:
- Em tôi còn nhỏ tuổi, nên răn cầm nó, kẻo trong núi nhiều hổ beo lắm!
Thầy nói:
- Trước giờ ngọ không biết nó đi đâu, đã cho ăn đòn rồi!
Nột về bảo Thành:
- Không nghe lời anh nên bị phạt roi rồi đấy!
Thành cười rằng:
- Không có đâu!
Ngày hôm sau, lại xách búa đi. Anh sợ hãi nói:
- Anh vẫn bảo em chớ đến đây, sao lại cứ thế?
Thành không trả lời, hối hả chặt củi, mồ hôi đầm đìa hai bên má vẫn không chịu nghỉ lấy một lúc, chừng đủ một bó, không nói năng gì, trở ra về.
Thầy lại trách mắng, Thành bèn nói hết thực tình. Thầy khen là hiền, rồi cũng không ngăn cấm nữa.
Anh nhiều lần bảo thôi, nhưng Thành cũng chẳng nghe.
Một hôm, đang cùng mấy người hái củi trong núi, bỗng có hổ đến. Mọi người sợ hãi, trốn nấp hết cả, hổ liền tha Thành đi. Hổ mang người nên đi thong thả, bị Nột đuổi kịp. Nột ra sức giáng một búa trúng vào đùi. Hổ bị đau chạy lồng lên, không sao đuổi tìm được nữa, đành chỉ đau đớn khóc lóc mà trở lại. Cả bọn khuyên dỗ an ủi, khóc càng thảm hơn, nói:
- Em tôi chẳng phải như em người khác; huống chi nó vì tôi mà chết, tôi sống làm sao được?
Bèn lấy búa tự chặt vào cổ. Mọi người vội cứu thì đã ngập vào thịt đến gần một phân, máu vọt ra lênh láng, mắt hoa muốn chết. Ai cũng khiếp, bèn xé áo buộc cho anh ta, rồi cả bọn cõng về.
Bà mẹ khóc lóc mắng rằng:
- Mày giết con ta, lại muốn chặt cổ, để lấp liếm hay sao?
Nột rên rỉ nói:
- Xin mẹ chớ phiền não, em chết, nhất định tôi chẳng sống nào!
Đặt lên giường, vết thương đau đớn không sao ngủ được. Ngày đêm chỉ ngồi dựa vào tường mà khóc. Cha sợ con cũng chết nốt, thường đến bên giường bón cho ăn chút ít, Ngưu thị liền nhiếc mắng. Nột không chịu ăn nữa, ba ngày thì chết.
Trong làng có thầy đồng rí(1); vong hồn Nột đang đi trên đường gặp thầy, bèn tỏ bày nông nỗi khổ sở mấy ngày trước đây, nhân hỏi chỗ ở của em. Thầy đồng nói: “Không nghe tin gì”. Thế rồi quay lại đưa đường cho Nột đi. Đến một nơi đô hội, thấy một người mặc áo đen từ trong thành đi ra. Thầy đồng đón đường, rồi thay Nột mà hỏi thăm Thành. Người áo đen xem kỹ lại tập trát ở trong túi đang đeo, đàn ông, đàn bà có hơn trăm, nhưng không có tội phạm nào họ Trương. Thầy đồng ngờ rằng ở tập trát khác chăng. Người áo đen nói:

(1) Thầy đồng chuyên nằm đồng thiếp, gọi hồn người chết.

- Con đường này thuộc về tôi, sao có thể bắt lầm được!
Nột không tin, ép thầy đồng đưa vào thành.
Trong thành, ma mới ma cũ qua lại nhộn nhạo. Cũng có người quen biết cũ, đến hỏi, đều không ai biết cả.
Bỗng nhiên ai nấy cùng nhao nhao lên: “Bồ tát đến!” Ngẩng đầu nhìn, thấy trong mây có một người to lớn, ánh hào quang rực rỡ suốt từ trên xuống dưới, vụt cảm thấy như thế giới trong trẻo sáng bừng.
Thầy đồng mừng nói rằng:
- Cậu cả có phúc thay! Bồ tát mấy mươi năm mới xuống âm ty một lần để nhổ sạch mọi khổ não. Vừa đúng hôm nay được gặp!
Liền kéo Nột quỳ xuống. Bọn quỷ lúc nhúc ngổn ngang, chắp tay nhất tề tụng niệm: “Từ bi cứu khổ”. Tiếng vang chấn động mặt đất.
Bồ tát lấy cành dương, rưới nước cam lộ khắp mọi nơi, hạt li ti như bụi. Một lát, sương mới tan, hào quang thu lại, thì không thấy đâu nữa. Nột cảm thấy trên cổ thấm nước cam lộ, chỗ vết búa không còn đau. Thầy đồng lại theo đường cũ đưa Nột về. Trông thấy cổng làng, thầy mới từ biệt mà đi.
Nột chết đã hai ngày, bỗng nhiên sống lại, bèn thuật hết những gì mình đã gặp, và bảo rằng Thành chưa chết. Bà mẹ cho rằng đặt điều nói láo, lại chửi mắng Nột. Nột mang oan mà không thể tự giải bày. Sờ đến vết thương thì đã lành. Đành gượng đứng dậy, lạy cha mà nói rằng:
- Con sẽ băng mây vượt biển tìm em. Như mà không thấy, thì thân này hết mong trở lại, xin cha cứ coi như là con đã chết!
Ông đưa con ra chỗ vắng, cùng nhau khóc lóc, không dám giữ con lại.
Nột ra đi, thường đến những con đường lớn để hỏi thăm tin tức em. Giữa đường tiền ăn hết sạch, phải ăn mày mà di. Hơn một năm đến Kim Lăng, quần áo rách xơ, buộc túm trăm múi, lọm khọm trên đường. Ngẫu nhiên trông thấy hơn mười người cưỡi ngựa đi qua, Nột chạy tránh sang bên đường. Trong đó, có một người như quan lớn, tuổi chừng bốn mươi trở lại, lính hầu lực lưỡng, ngựa hung hăng, rộn rịp trước sau. Một thiếu niên cưỡi con ngựa nhỏ, nhìn Nột nhiều lần. Nột cho là một vị công tử con quan, chưa dám ngẩng nhìn, thì thiếu niên dừng roi ghìm ngựa, rồi bỗng xuống ngựa gọi to:
- Có phải anh ta đấy chăng?
Nột ngước đầu nhìn kỹ, thì ra Thành. Liền nắm lấy tay em, đau đớn quá, khóc lạc cả tiếng. Thành cũng khóc và nói:
- Anh sao phải xiêu bạt đến nỗi này?
Nột kể hết sự tình, Thành càng thêm âu sầu. Những người cưỡi ngựa đều xuống, hỏi duyên cớ, rồi bẩm lại với quan lớn. Quan lớn truyền bớt ra một con ngựa để chở Nột, dong cương về đến nhà, rồi mới hỏi chuyện tường tận.
Trước đây, hổ tha Thành đi, đặt ở bên đường lúc nào không biết, nằm giữa đường suốt một đêm. Vào lúc ông Trương Biệt Giá từ kinh đô đi đến, ngang qua chỗ Thành nằm, nhìn thấy mặt mày nho nhã, thương xót đến vực lên, vỗ về, Thành dần dần sống lại. Nói nhà cửa quê quán, thì đã đi quá xa. Vì thế bèn chở Thành cùng về, lấy thuốc đắp vào chỗ bị thương, vài ngày thì khỏi. Biệt Giá không có con trai, liền nhận Thành làm con. May hôm đó gặp buổi Thành theo bố nuôi đi dạo chơi ngắm cảnh.
Thành kể lại với anh đầy đủ mọi việc; vừa xong, Biệt Giá đi vào. Nột lạy tạ không thôi. Thành vào nhà trong, mang áo lụa ra biếu anh, rồi bày tiệc rượu, trò chuyện tự tình.
Biệt Giá hỏi:
- Họ nhà ta, ở tại Dự có bao nhiêu đinh?
Nột nói:
- Không ạ, cha tôi lúc bé người đất Tề, đến ngụ cư ở đất Dự.
Biệt Giá nói:
- Tôi cũng người Tề, quê nhà ta thuộc làng nào?
Nột đáp:
- Từng nghe cha tôi nói thuộc hạt Đông Xương.
Biệt Giá kinh ngạc hỏi:
- Thế tôi cũng cùng làng, vì sao lại dời đến Dự?
Nột nói:
- Cuối đời nhà Minh, quân Thanh vào biên giới bắt cóc bà mẹ già đem đi. Cha tôi gặp loạn đao binh, trôi dạt không nhà không cửa. Trước đây từng buôn bán ở miền Tây, qua lại đã quen, vì thế mà ở lại đó.
Biệt Giá kinh sợ, hỏi:
- Cụ nhà ta tên là gì?
Nột nói cho biết. Biệt Giá tròn mắt nhìn, rồi cúi đầu như nghi ngờ, rảo bước mau vào nhà trong. Không bao lâu, thái phu nhân ra, tất cả đều lạy chào. Xong hỏi Nột rằng:
- Mày có phải là cháu của Trương Bỉnh Chi chăng?
Nột đáp: “Phải”.
Thái phu nhân khóc lớn, bảo Biệt Giá rằng:
- Đây là em của mày.
Anh em Nột chưa hiểu thế nào. Thái phu nhân nói:
- Ta lấy cha chúng mày ba năm, lưu lạc sang Bắc, thân mình thuộc về Hắc Cố Sơn, được nửa năm, sinh anh mày, lại nửa năm nữa, Cố Sơn chết, anh mày nhờ bổ trật trong quân ngũ mà chuyển dần lên chức quan này. Bây giờ không làm quan nữa, không một giờ khắc nào là không tưởng nhớ quê hương. Bèn ra sổ tịch lấy lại họ cũ. Đã nhiều lần cho người đến đất Tề, mà không chỗ nào tìm thấy âm hao gì cả. Nào có biết đâu cha chúng mày đã dời sang miền Tây!
Rồi nói với Biệt Giá rằng:
- Mày nuôi em làm con thì giảm phúc mà chết thôi.
Biệt Giá nói:
- Hồi trước có hỏi Thành, Thành chưa từng nói là người Tề, cứ nghĩ còn bé dại, nên không nhớ.
Bèn dựa vào tuổi để xếp đặt lại: Biệt Giá bốn mươi mốt tuổi, làm anh cả, Thành mười sáu tuổi là út, Nột hai mươi hai tuổi là anh cả mà thành anh hai.
Biệt Giá được hai em, mừng quá, nằm ngồi cùng có nhau, nên biết tận cội nguồn mọi nguyên do chia lìa lưu lạc, và toan tính chuyện trở về. Thái phu nhân sợ bà vợ kế không dung chăng. Biệt Giá nói:
- Dung được thì ở cùng nhau, nếu không thì ở riêng ra, chứ trong thiên hạ có nước nào mà lại không có tình cha con?
Rồi đó bán đất, bán nhà, sắm sửa hành lý, định ngày đi về Tây. Khi đến đầu làng, Nột và Thành giong ruổi về trước, báo tin cho bố biết. Ông bố từ lúc Nột bỏ đi, vợ cũng chết. Chỉ còn trơ ra một ông lão góa, người và bóng đôi nhau!
Bỗng nhiên thấy Nột vào, bội phần mừng rỡ, thảng thốt giật mình. Lại thấy Thành thì mừng quá đỗi, không nói được gì, nước mắt giàn giụa. Lại được tin mẹ con Biệt Giá cũng đến. Ông dừng khóc, ngạc nhiên không ra vui, cũng không ra buồn, đứng ngây như phỗng. Không bao lâu Biệt Giá vào, lạy chào xong thái phu nhân nắm lấy tay ông nhìn nhau cùng khóc. Đã thấy con hầu, * già, người giữ ngựa, đầy tớ trong ngoài chật ních, đứa đứng đứa ngồi, không còn biết như thế nào.
Thành không thấy mẹ liền hỏi, mới biết mẹ đã chết, gào khóc muốn đứt hơi, một lúc mới tỉnh lại.
Biệt Giá đem tiền của ra xây dựng lầu gác, mời thầy về dạy hai em học.
Ngựa nhảy trong tàu, người ồn ào trong nhà, nghiễm nhiên là một đại gia.

Cao Xuân Huy dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,248
Posts: 13638
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 19 Aug 2022

Hoa Cô Tử


An Ấu Dư đỗ khoa bạt cống(1) là người ở Thiểm Tây. Tính chuộng nghĩa, hay vung tiền vì người khác, lại thích phóng sinh, gặp ai săn được chim đều không ngại giá cao, mua lấy rồi thả ra.

(1) Tên một khoa thi đời Thanh. Cứ 12 năm một lần, quan học chính đề bạt những người học giỏi lên kinh, triều đình khảo hạch xong, tùy hạng đỗ mà trao chức.

Gặp lúc nhà ông cậu có tang, chàng đến giúp việc đưa đám, chiều tối trở về qua núi Hoa Nhạc, bị lạc lối quẩn quanh trong núi, lòng rất lo sợ. Chợt thấy cách một quãng xa chừng mũi tên bắn có ánh đèn, bèn xăm xăm đi lại. Được mấy bước bỗng thấy một cụ già lưng còng kéo lê gậy, băng đường tắt đi tới rất mau. An dừng chân toan hỏi thăm thì cụ già đã hỏi trước chàng là ai. An thưa là lạc lối và nói chỗ có ánh đèn kia hẳn là xóm núi, định đến ngủ nhờ. Cụ già bảo:
- Đấy không phải là nơi yên ổn đâu. May gặp lão đây, hãy theo về, nhà tranh cũng xếp được nơi nghỉ cho ngài.
An mừng quá, đi theo chừng một dặm tối một xóm nhỏ. Ông già gõ vào cửa phên, một bà già ra mở cửa chào hỏi:
- Ông nó đã về đấy à?
Ông già đáp:
- Phải.
An bước vào thấy nhà thấp mà hẹp. Cụ già khêu đèn giục chàng ngồi rồi bảo có gì thì bày lên mời khách. Lại bảo với cụ bà:
- Ông đây không phải ai khác, chính là ân nhân của nhà ta đó. Bà đi lại không thuận, hãy gọi Hoa Cô Tử ra lọc rượu đi!
Lát sau một cô gái bưng mâm bát vào rồi đứng cạnh ông cụ liếc mắt nhìn chàng. An nhìn lại thấy nàng nhỏ tuổi mà xinh đẹp như tiên. Ông già ngoảnh lại sai hâm rượu. Góc phía Tây phòng trong có lò than, cô gái vào đó cời lửa. An hỏi:
- Cô đó là người thế nào với cụ?
Cụ già đáp:
- Lão họ Chương, bẩy chục tuổi đầu chỉ một mụn con gái đó thôi. Nhà nông ít tôi tớ, lại vì ngài không phải là ai khác lạ, cho nên mới dám gọi vợ con ra bái kiến, mong chớ chê cười!
An lại hỏi:
- Nhà chồng cô em ở làng nào?
Cụ già đáp:
- Còn chưa có ai.
An luôn miệng khen cô gái xinh đẹp thông minh. Cụ già vừa mới ngỏ ý khiêm nhường bỗng nghe cô gái la hoảng, chạy vào thì rượu sôi lửa bốc. Cụ giập tắt xong, mắng:
- Lớn chừng ấy rượu trào không biết à?
Ngoái lại thấy bên cạnh lò có hình nữ thần Tử Cô(1) ghép bằng ruột cây quỳ còn dở dang, ông già lại mắng:

(1) Tên một cô gái làm lẽ nhà người, bị vợ cả ghen, chết vào rằm tháng Giêng. Dân thờ làm thần, đón vào ngày rằm tháng Giêng để bói việc tầm tang và nhiều việc khác.

- Tóc bồng bồng chừng ấy mà còn như con nít!
Bèn cầm lên cho An xem và nói:
- Nó mãi làm cái trò kiếm ăn này để cho rượu sôi trào lên. Được ngài quá khen, há chẳng thẹn chết đi được ư?
An ngắm nghía thấy mắt mày xiêm áo làm rất tinh xảo, bèn khen:
- Tuy tựa trò chơi trẻ nhỏ nhưng cũng cho thấy em nhà rất sáng dạ.
Chuốc chén giờ lâu, cô gái nhiều lần ra rót rượu, mỉm miệng cười tươi không ngượng ngùng chút nào. An nhìn chăm chú, xao xuyến tâm tình. Bỗng nghe bà cụ gọi, ông lão bèn đi vào. An thấy không có ai, bảo cô gái:
- Em đẹp quá khiến tôi mất cả hồn vía. Muốn nhờ mối lái, sợ việc không thành, ý em thế nào?
Nàng lẳng lặng ôm hồ rượu, tới bên lò, dường như không nghe tiếng. Hỏi mấy lần không đáp, chàng bèn vào buồng. Cô gái đứng phắt dậy, nghiêm mặt nói:
- Ông khùng này vào buồng định làm gì thế?
An cứ quỳ nài nỉ mãi, nàng đi nhanh tới cửa định ra ngoài. Chàng vụt đứng lên chắn lối, ôm chầm lấy hôn vào miệng, vào môi. Nàng run rẩy gọi to lên, ông già vội vàng vào hỏi. An buông tay bước ra, vừa thẹn vừa sợ. Nhưng cô gái thong dong thưa với cha:
- Rượu lại sôi trào, nếu ông đây không vào thì tiêu tan cả hồ rượu rồi.
An nghe nàng nói như thế trong lòng mới yên, càng cảm ơn nàng, hồn phách điên đảo, mất cả ý định ban nãy. Bèn vờ say rời chiếu rượu, cô gái cũng bỏ ra ngoài. Ông già trải chăn đệm xong, đóng cửa rồi ra nốt. An không ngủ được, trời chưa sáng đã gọi ông cụ từ biệt.
Về đến nhà, chàng lập tức nhờ bè bạn thân tới nhà cô gái cầu hôn, nhưng mất cả ngày rồi về mà không tìm được xóm nhà đâu cả. An bèn sai người hầu thắng yên cương tự tìm đường đi đến. Đến nơi chỉ thấy vách núi cao ngất, chẳng có xóm làng nào. Hỏi thăm các thôn xóm gần quanh thì chẳng có mấy ai họ Chương. Chàng thất vọng ra về, bỏ cả ăn ngủ, từ đấy mắc chứng ngẩn ngơ, cố ép húp tí nước cháo thì nôn nao muốn mửa. Trong cơn mê sảng cứ gọi tên Hoa Cô Tử, người nhà chẳng hiểu ra sao, đành suốt đêm đứng quanh, theo dõi, thế xem ra muốn nguy. Một đêm, người canh mỏi mệt ngủ cả, chàng lờ mờ thấy có người động vào mình, hé mắt nhìn thì Hoa Cô Tử đứng ngay bên giường, bất giá thần khí tỉnh táo hẳn, nhìn nàng chăm chú, hai hàng nước mắt muốn trào rơi. Nàng nghiêng đầu cười, bảo:
- Anh chàng si tình sao đến nông nỗi này?
Bèn trèo lên giường, ngồi trên đùi An, lấy hai tay day huyệt thái dương. An cảm thấy mùi xạ hương thơm lạ lùng, xộc vào mũi thấm tận xương. Day một lúc, bỗng thấy phía trên sống mũi đổ mồ hôi, dần dần lan tới chân tay mình mẩy. Nàng khẽ nói:
- Trong nhà đông người, em không tiện ở lại. Ba ngày nữa em lại đến thăm.
Lại lấy trong ống tay áo thêu ra mấy cái bánh hấp đặt ở đầu giường rồi lẳng lặng ra đi. Đến nửa đêm, An toát hết mồ hôi, thấy thèm ăn, bèn quờ bánh mà ăn. Không biết bánh bao nhân gì mà thơm ngon lạ thường, ăn liền ba cái, rồi lấy áo đậy lên chỗ bánh còn lại, thiêm thiếp ngủ say, đến sáng bảnh mới tỉnh giấc, như trút được gánh nặng. Ba ngày ăn hết bánh, tinh thần càng sảng khoái, bèn cho người nhà tản đi hết; lại sợ nàng đến không vào được cửa, bèn lẻn ra mảnh sân ăn thông vào thư phòng mở hết then khóa. Lát sau, quả nhiên nàng đến, cười nói:
- Anh chàng si tình kia không tạ ơn bà lang à?
An mừng quá, ôm lấy nàng cùng giao hoan, ân ái hết mực. Sau đó cô gái nói:
- Thiếp mạo hiểm chịu nhơ là vì cố báo đền ơn sâu đó thôi, thực không thể vui hòa cầm sắt dài lâu, xin chàng sớm lo nơi chốn khác.
An nín lặng hồi lâu mới hỏi:
- Vốn không rõ bình sinh đã từng giao tiếp với gia đình nàng ở đâu, quả thực không nhớ nữa.
Cô gái không chịu nói, chỉ bảo:
- Chàng tự nghĩ thì biết.
An cố nài xin được gắn bó dài lâu, nàng đáp:
- Đêm nào cũng trốn đi hẳn không được rồi, mà mãi mãi vui vầy lứa đôi cũng không được nốt.
An nghe nói rầu rầu buồn bã, cô gái bèn bảo:
- Nếu muốn nên việc, đêm mai mời chàng đến nhà thiếp.
An bèn đổi buồn thành vui, hỏi:
- Đường sá xa xôi, bước chân em nhỏ bé thế kia, sao tới được đây?
Nàng đáp:
- Thiếp đã về nhà đâu. Bà điếc ở xóm Đông này là bà dì của thiếp. Vì chàng mà thiếp nấn ná đến nay, sợ ở nhà nghi ngại.
An chung chăn với nàng chỉ thấy từ hơi thở đến thịt da, không chỗ nào không thơm, bèn hỏi:
- Nàng xức thứ dầu thơm gì mà thấm cả vào xương thịt thế?
Nàng đáp:
- Thiếp sinh ra đã như thế rồi, không phải do xức dầu thơm đâu.
An càng lấy làm lạ. Nàng dậy sớm từ biệt, An sợ mình lạc đường, nàng hẹn sẽ đứng chờ bên đường. Đến chiều tối An phóng ngựa đi, quả nhiên nàng đón đợi, cùng đi tới chốn cũ. Hai ông bà vui vẻ đón tiếp, cơm rượu chẳng có món gì ngon, chỉ toàn những món rau tạp, ăn xong mời khách đi nghỉ. Cô gái chẳng ngó ngàng gì đến, An càng nghi ngại. Canh khuya nàng mới đến nói:
- Cha mẹ rì rầm mãi không ngủ khiến chàng vất vả chờ đợi lâu.
Hai người quấn quít suốt đêm, rồi nàng bảo với An:
- Gặp mặt đêm nay để rồi xa cách trăm năm đấy.
An sửng sốt hỏi lại, nàng đáp:
- Cha thiếp thấy xóm này lẻ loi vắng vẻ nên sắp rời đi xa. Sum vầy với chàng đêm nay là hết.
An không nỡ buông nàng ra, thở than buồn bã. Trong lúc bịn rịn màn đêm dần tan, ông già bỗng sồng sộc bước vào mắng:
- Con ranh, làm nhơ nhuốc cửa nhà thanh sạch khiến tao xấu hổ muốn chết!
Cô gái tái mặt, vội vội vàng vàng chạy mất. Ông già cũng ra theo, vừa đi vừa chửi mắng con. An kinh sợ cuống quít, không còn biết làm thế nào đành lẻn trốn về nhà. Mấy ngày bồi hồi, trong lòng bứt rứt không yên, nhân nghĩ rằng đến đêm lần tới đó, trèo tường vào xem sao.
Ông cụ đã nói ta có ơn với họ, thì dù việc có bại lộ chắc cũng không khiển trách quá nặng nề. Bèn thừa lúc đêm tối cất lẻn ra đi. Chàng lần mò giữa núi, lạc lối chẳng biết đường nào. Sợ quá đang định tìm lối về thì thấy trong hẻm núi thấp thoáng có nhà cửa. Mừng rỡ đến nơi thấy tường cao cổng rộng tựa nhà thế gia, mấy lớp cửa vào còn chưa đóng. Chàng hỏi thăm người gác cổng về nhà họ Chương. Có cô hầu áo xanh ra hỏi:
- Đêm hôm ai hỏi thăm nhà họ Chương thế.
An đáp:
- Đó là người quen thân với tôi, tự nhiên lạc mất lối đến nhà.
Cô hầu nói:
- Ông không phải hỏi họ Chương nữa. Đây là nhà mợ cô ấy, Hoa Cô hiện đang ở đây, để tôi báo với cô ấy.
Cô hầu vào một lát rồi trở ra mời An vào. Vừa mới bước vào hành lang, Hoa Cô đã bước nhanh ra đón, rồi bảo cô hầu:
- Chàng An xuôi ngược đêm hôm hẳn đã mệt mỏi, hãy sửa soạn chỗ ngủ đi!
Lát sau dắt tay An vào màn. An hỏi:
- Nhà mợ sao không còn ai khác nữa?
Cô gái đáp:
- Mợ đi vắng, để thiếp lại trông nhà. May được gặp chàng, há không phải có duyên số từ trước hay sao?
Nhưng trong lúc tựa kề bên nhau, An thấy mùi rất tanh hôi, lòng ngờ có điều lạ. Nàng ôm lấy cổ An, thè ngay lưỡi ra liếm vào lỗ mũi, như mũi kim đâm buốt lên tận óc. An sợ quá chỉ muốn trốn thoát nhưng thân thể như bị giây chão trói chặt, giây lát bằn bặt thiếp đi.
An không về, người nhà tìm hết những nơi có thể đến được. Có người mách một chiều tối gặp An trên đường vào núi. Người nhà bèn vào núi, tìm thấy chàng trần truồng nằm chết dưới chân vách núi cao, lạ lùng kinh sợ chẳng rõ duyên do, khiêng về nhà. Cả nhà đang xúm lại than khóc thì có một cô gái đến viếng, từ ngoài cửa gào khóc đi vào, vỗ thây day mũi, nước mắt rỏ ròng ròng, rồi kêu to:
- Trời ôi! Trời ôi! Sao lại ngu muội đến thế?
Nàng đau đớn kêu khóc khản cả tiếng, một lúc sau mới nguôi, bảo với người nhà:
- Xin để đó bảy ngày, đừng liệm vội!
Mọi người không biết là ai, toan hỏi thì nàng không chào hỏi gì hết, chỉ nuốt nước mắt lừng lững đi ra, giữ lại cũng không thèm ngoảnh mặt. Đi theo dấu chân, chớp mắt đã không thấy đâu nữa. Ai nấy ngờ là thần, kính cẩn vâng theo lời dặn. Đêm, nàng lại đến khóc như ngày hôm trước. Đến đêm thứ bảy, An bỗng hồi tỉnh, trở mình rên rỉ, người nhà đều kinh hãi. Cô gái bước vào nghẹn ngào nhìn chàng. An giơ tay vẫy bảo mọi người lui ra. Cô gái lấy ra một bó cỏ tươi, nấu với chừng một đấu nước rồi cho uống ngay trên giường. Lát sau An nói được, thở dài bảo nàng:
- Giết chết tôi lần nữa là nàng mà tái sinh tôi cũng là nàng đấy!
Nhân đó kể lại những việc đã gặp. Nàng bảo:
- Con yêu rắn giả mạo làm thiếp đó. Hôm chàng lạc lối đầu tiên nhìn thấy ánh đèn chính là nó đấy.
An hỏi:
- Sao nàng có thể làm cho người chết hồi sinh, xương khô mọc thịt được thế? Chẳng phải là tiên ư?
Cô gái đáp:
- Bấy lâu đã định nói nhưng lại e chàng kinh lạ. Năm năm trước đây, trên đường núi Hoa Sơn, chàng từng mua lại con chương(1) săn được rồi thả ra, có phải thế không?

(1) Một loài nai, gọi là mang, có xạ thơm.

An đáp:
- Đúng, có việc đó.
Nàng bảo:
- Con Chương ấy là cha thiếp. Trước đây thiếp nói ơn lớn chính là về cớ đó. Hôm mới rồi chàng đã đầu thai vào nhà ông chủ chính họ Vương ở thôn Đoài, thiếp cùng cha kiện với Diêm vương, nhưng Diêm vương không nghe. Cha thiếp tình nguyện hủy đạo để chết thay cho chàng, nài nỉ đến bảy ngày mới nên việc. Buổi gặp gỡ hôm nay là may mắn lắm. Nhưng chàng tuy sống lại vẫn bị tê liệt, phải lấy được máu rắn ấy hòa với rượu mà uống thì bệnh mới khỏi hẳn.
An nghiến răng căm giận nhưng lo nghĩ không có phép gì bắt được nó. Cô gái bảo:
- Không khó đâu. Có điều giết nhiều sinh mạng sẽ để lụy cho thiếp trăm năm không được lên tiên thôi. Hang của nó ở sườn núi cũ ấy, vào lúc xế trưa chất cỏ mà đốt, bên ngoài phòng bị thêm nỏ cứng ắt bắt được con yêu ấy.
Nói xong, nàng từ biệt rằng:
- Thiếp không thể hầu chàng mãn đời, thực rất đau buồn. Nhưng vì cứu chàng mà sự nghiệp tổn thất hết bảy phần rồi, xin chàng thương xót giùm thiếp. Một tháng nay nghe máy trong bụng, chắc là nghiệt căn. Con trai hay con gái, sang năm sẽ gửi cho chàng.
Rồi rơi lệ mà ra đi. Qua đêm ấy, An thấy từ thắt lưng trở xuống như chết rồi, cấu véo cũng không biết đau, bèn đem lời cô gái dặn bảo với người nhà. Người nhà tới nơi, hun đốt hang như lời nàng. Có con rắn trắng lớn xông qua lửa trườn ra, bị cung nỏ bắn một loạt giết được. Lửa cháy vào hang, rắn lớn rắn bé mấy trăm con đều chết cháy, mùi tanh nồng mũi. Người nhà ra về, đưa máu rắn cho An. Chàng uống ba ngày, hai chân dần dần đã có thể xoay trở, nửa năm mới đứng lên được.
Sau đó, một mình vào núi, gặp bà già ôm đứa trẻ quấn tã cói trao cho, bảo rằng:
- Con gái già gửi cho chàng đây.
An toan hỏi thăm, loáng cái đã không thấy đâu nữa. Giở tã xem thì là trai. Chàng bế về nhà, rồi suốt đời không lấy ai nữa.

Phạm Tú Châu dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,248
Posts: 13638
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 19 Aug 2022

Liên Tỏa


Dương Vu Úy dời nhà đến bến sông Tứ Thủy(1); phòng học trông ra một cánh đồng rộng, có nhiều ngôi mộ cổ ở ngoài tường. Đêm nghe hàng bạch dương lao xao như tiếng sóng vỗ. Đêm tàn đốt đèn ngồi, lòng đang buồn rượi bỗng nghe phía ngoài tường có tiếng ngâm thơ:

Gió lạnh xoay chiều giữa bóng đêm,
Đóm bay trong cỏ, đậu lên rèm.

(1) Thuộc huyện Tứ Thủy, tỉnh Sơn Đông.

Ngâm đi ngâm lại nghe rất buồn thảm. Lắng nghe, giọng ngâm nhỏ nhẹ uyển chuyển như tiếng con gái, lấy làm ngờ. Sáng hôm sau, nhìn ra ngoài tường chẳng thấy dấu vết một ai, duy chỉ có một dải lụa tím rơi giữa đám gai góc; Dương nhặt về đặt lên song cửa sổ. Khoảng canh hai đêm ấy lại nghe tiếng ngâm như hôm trước. Dương bắc ghế nhòm ra, tiếng ngâm im bặt, biết là ma, nhưng vẫn có lòng ái mộ. Đêm sau chàng rình nấp ở mé đầu tường. Canh một gần tàn thì từ trong đám cỏ, có người con gái lững thững bước ra, đến vin tay vào một cành cây nhỏ, cúi đầu ngâm ảo não. Dương khẽ đằng hắng, cô gái vội lẩn vào đám cỏ hoang biến mất. Từ đó Dương nấp chờ dưới tường, nghe nàng ngâm xong liền từ bên này tường ngâm tiếp:

Nỗi buồn trăm mối nào ai tỏ,
Áo chiếc trăng lên, luống lạnh thêm.

Hồi lâu vẫn thấy im ắng, Dương đi vào phòng. Vừa ngồi xuống, bỗng thấy người đẹp từ ngoài đi vào, khép vạt áo nói:
- Quân tử là bậc sĩ nhân phong nhã, thế mà thiếp lại sợ hãi lẩn tránh.
Dương mừng, kéo áo mời ngồi, thấy nàng gầy héo, lạnh buốt, dường như không mang nổi áo. Hỏi nàng quê quán nơi nào, ngụ đây đã lâu chưa?
Đáp rằng:
- Thiếp người Lũng Tây, theo cha lưu ngụ ở đây, năm mười bảy tuổi bỗng bị bạo bệnh chết. Đến nay đã hơn hai mươi năm rồi. Chốn cửu tuyền hoang dã, lẻ loi vắng vẻ như thân cò. Lời ngâm đó là tự thiếp nghĩ ra để gửi gắm mối sầu hận. Nghĩ lâu rồi mà chưa nối vần được, nay đội ơn chàng làm tiếp, dưới suối vàng cũng thấy lòng vui sướng.
Dương muốn cùng nàng giao hoan, nàng buồn bã nói:
- Nắm xương nát chốn dạ dài không thể ví với người sống được. Nếu làm chuyện mây mưa tăm tối sẽ làm cho người ta đoản thọ. Thiếp không nỡ gây họa cho bậc quân tử.
Dương bèn thôi. Đùa bỡn đưa tay thăm dò trên ngực thì thấy núm * còn hồng mào gà, rõ ràng vẫn là gái đồng trinh. Lại toan nhìn xuống đôi giày dưới quần cô gái, nàng cúi mặt cười:
- Anh chàng cuồng si này thật là phiền nhiễu.
Dương cầm lên xem, một chiếc tất gấm màu nguyệt bạch buộc bằng những sợi tơ ngũ sắc; lại nhìn chiếc kia thì thắt bằng dải lụa màu tím. Hỏi sao không thắt cùng một dải giống nhau thì nàng đáp:
- Đêm trước sợ chàng, chạy trốn, không biết rơi ở chỗ nào.
Dương nói:
- Để tôi thay chiếc khác cho nàng.
Nói rồi lấy trên cửa sổ xuống đưa cho cô gái. Nàng kinh ngạc hỏi ở đâu ra, chàng nhân kể lại đầu đuôi. Bèn dứt bỏ sợi tơ đi mà buộc lại bằng dải lụa. Lúc sau lật xem sách trên án, bỗng thấy tập Liên xương cung từ(1), nàng thở dài:

(1) Tập thơ của Nguyên Chẩn (778-831), nhà thơ đời Đường.

- Lúc sinh thời thiếp thích nhất đọc sách này. Nay nhìn thấy tưởng như trong mộng.
Rồi cùng đàm đạo thơ văn, thì thông minh linh lợi, rất đáng yêu. Liền chong đèn cùng ngồi bên cửa sổ hướng Tây, như gặp được người bạn tốt. Từ đó, đêm đêm hễ nghe tiếng ngâm nga khe khẽ thì chỉ lát sau nàng đã đến. Lại dặn:
- Chàng giữ kín đừng nói với ai. Thiếp nhút nhát, sợ có kẻ thô bạo bắt nạt.
Dương nhận lời: Hai người hòa hợp như cá với nước. Tuy không đến nỗi quá sàm sỡ, nhưng nơi phòng khuê còn nồng nàn hơn cái tình chồng kẻ lông mày cho vợ.
Nàng thường ngồi dưới đèn chép sách cho Dương, nét chữ mềm mại và ngay ngắn. Lại tự chọn một trăm bài từ trong cung(2) chép riêng ra để đọc. Nàng bảo Dương sắm bàn cờ, mua đàn tì bà, mỗi đêm thường dạy Dương đánh cờ, nếu không chơi cờ thì dạo khúc Tiêu song linh vũ, buồn đến não lòng. Dương không thể nào nghe trọn bài ấy được, thì nàng lại chuyển sang chơi khúc Hiểu uyển oanh thanh, bất giác tâm hồn chàng lại trở nên thanh thản. Rồi khêu đèn diễn trò, vui quên cả sáng, nhìn ra ngoài song thấy ánh dương le lói mới vội vã trốn đi.

(2) Nguyên văn: “cung từ”, là những bài thơ chuyên vịnh các việc lặt vặt trong cung cấm, nhất là về số phận người cung nữ.

Một hôm, thư sinh họ Tiết đến thăm, gặp Dương đang ngủ ngày. Nhìn trong phòng thì bàn cờ, đàn tì bà còn đó, biết là những thứ mà bạn không sành. Lại giở sách xem thì thấy tập cung từ, chữ viết đẹp và ngay ngắn, càng thêm ngờ. Dương tỉnh dậy, Tiết hỏi những đồ chơi ấy ở đâu ra.
Đáp rằng:
- Đang định học đấy!
Lại hỏi đến tập thơ, Dương nói dối là mượn của người bạn. Tiết lật từng trang xem, thấy ở trang cuối có dòng chữ rất nhỏ: “Ngày… tháng… Liên Tỏa chép”, liền cười:
- Đây là tên tự của con gái, sao giấu nhau mãi thế?
Dương bí quá không biết nói sao. Tiết càng gặng hỏi, Dương vẫn không chịu nói. Tiết kẹp quyển sách định mang đi, Dương càng quẫn, đành phải nói thật. Tiết xin được gặp mặt nàng. Dương nhân đấy nhắc lại lời nàng căn dặn; Tiết càng thiết tha ngưỡng mộ hơn, Dương bất đắc dĩ phải nhận lời.
Nửa đêm cô gái đến, Dương chuyển lời cầu khẩn của bạn. Nàng nổi giận:
- Dặn anh thế nào mà lại bép xép với người khác rồi?
Dương đem hết tình thực ra nói, nàng bảo:
- Duyên phận với chàng đến đây là hết.
Dương khuyên giải bằng trăm cách, rốt cuộc nàng vẫn không vui, đứng dậy từ biệt, nói:
- Thiếp tạm lánh mặt họ đã.
Hôm sau Tiết đến, Dương chuyển lời nàng rằng không được. Tiết ngờ chàng thoái thác, chiều tối bèn cùng hai người bạn đồng song đến nhà Dương, ở lì lại không chịu đi, cố ý quấy nhiễu làm ầm ỹ suốt đêm, khiến Dương phải thức trắng, mà vẫn chẳng có gì. Chúng thấy mấy đêm liền vẫn yên ắng, nên bụng cũng hơi khoái chí, sự huyên náo dần dần lắng xuống. Bỗng nhiên có tiếng ngâm thơ cất lên. Cả bọn cùng để ý nghe, giọng ngâm buồn não ruột. Đương lúc Tiết lắng tai chăm chú, thì một anh chàng học võ họ Vương cùng trong đám bè bạn, nhặt hòn đá to ném ra ngoài rồi nói lớn:
- Làm bộ không cho khách gặp mặt; câu thơ thậm hay lại nỉ non rền rĩ khiến người ta buồn phiền?
Tiếng ngâm thơ tắt ngay. Mọi người đều bực tức, Dương uất quá để lộ ra cả nét mặt, lời nói. Hôm sau, cả bọn mới kéo nhau đi. Chỉ còn Dương ở một mình trong thư trai trống vắng, hy vọng cô gái lại tới nữa, nhưng tuyệt nhiên không còn tăm dạng gì. Qua hai ngày nữa, nàng đột nhiên bước vào, khóc rằng:
- Chàng rước đám khách hung tợn đến nhà quát nạt làm thiếp chết khiếp.
Dương cuống quýt tạ lỗi, nhưng nàng đã vội vàng đi ra, nói rằng:
- Thiếp đã nói duyên phận hết rồi, từ nay xin vĩnh biệt.
Dương cố níu lại thì đã biến mất. Từ hôm đó đến hơn một tháng sau, nàng không trở lại, Dương thương nhớ đến mình gầy mặt võ nhưng không làm thế nào tìm lại được nàng.
Một đêm đang uống rượu một mình, bỗng cô gái vén màn bước vào. Dương mừng quá hỏi:
- Nàng tha thứ cho tôi rồi ư?
Cô gái nước mắt lã chã, lặng lẽ không nói một lời. Gạn hỏi mãi, nàng định nói lại thôi, chỉ đáp:
- Giận dỗi bỏ đi, bây giờ có việc khẩn cấp lại phải đến năn nỉ, thật khó tránh khỏi hổ thẹn.
Dương hỏi đi hỏi lại đôi ba phen, mới nói:
- Có một tên nha lại cục súc không biết ở nơi nào đến, buộc thiếp nhận làm vợ lẽ hắn. Nghĩ mình con nhà thanh bạch, không lẽ chịu khuất thân làm vợ con quỷ hèn hạ đó. Nhưng tấm thân yếu đuối kháng cự sao được. Nếu chàng có lòng liệt thiếp vào hàng cầm sắt, ắt không để mặc thiếp sống chết thế nào cũng được.
Dương giận quá, phẫn uất muốn chết. Song nghĩ kẻ sống người chết hai đằng khác nhau, khó mà dùng sức được. Nàng dặn:
- Đêm mai đi ngủ sớm, thiếp sẽ đón chàng trong giấc mộng.
Thế rồi lại cùng nhau trò chuyện, ngồi lại đợi sáng. Trước khi đi, nàng dặn ban ngày chớ có ngủ(1) chờ giữ đúng lời hẹn vào đêm. Dương nghe theo. Buổi chiều chàng uống một chút rượu, nhân lúc chuếnh choáng lên giường để nguyên áo xống mà nằm. Bỗng thấy cô gái đến, đưa cho con dao rồi cầm tay dắt đi. Đến một trang viện, vừa mới khép cửa chuyện trò, đã nghe có người cầm đá đập vào cửa ầm ầm. Cô gái sợ hãi bảo:

(1) Có bản chép: “ban ngày phải ngủ”.

- Kẻ thù đến rồi.
Dương mở cửa lao ra, thấy một người mũ đỏ, áo xanh, râu tua tủa quanh mồm như lông nhím, liền nổi giận quát mắng. Kẻ kia trợn mắt nhìn lại, lời lẽ hung hăng ngạo mạn. Dương càng giận, đuổi hắn đi, nhưng tên nha lại nhặt đá ném rào rào như mưa, trúng cổ tay Dương, không thể cầm dao được nữa. Đang lúc nguy cấp, trông xa thấy một người lưng đeo cung tên đi săn giữa đồng. Nhìn kỹ thì ra chàng võ sinh họ Vương, bèn gọi to cầu cứu. Chàng Vương giương cung chạy tới, bắn một phát trúng đùi tên nha lại, bồi thêm phát nữa y lăn ra chết. Dương mừng rỡ cảm tạ. Vương hỏi duyên do, chàng kể hết sự tình. Vương cũng lấy làm mừng đã chuộc được lỗi cũ, bèn cùng tới nhà cô gái. Nhưng nàng sợ hãi thẹn thùng, chỉ đứng xa không nói một lời. Trên án thư có con dao nhỏ dài chừng hơn một thước, khảm vàng, giát ngọc, rút ra khỏi nắp thì sáng loáng như gương. Vương tấm tắc khen mãi, không nỡ rời tay. Cùng Dương chuyện trò thấy cô gái e ấp thật tội nghiệp, Vương liền bỏ ra, chia tay mỗi người một ngả.
Dương cũng trở về, trèo tường vào, ngã sóng soài. Vừa hay giật mình tỉnh dậy, nghe trong thôn gà đã gáy ran. Chợt cảm thấy cổ tay đau nhói, sáng sớm nhìn xem thì da thịt còn tấy đỏ. Giữa trưa chàng Vương đến, nhân nói đêm qua nằm mơ rất lạ. Dương hỏi:
- Có phải mơ thấy bắn cung không?
Vương lấy làm lạ sao bạn lại biết trước như vậy, Dương bèn đưa cổ tay cho xem, lại kể rõ nguyên do. Vương nhớ lại nhan sắc người đẹp trong mộng, chỉ hận rằng không được trông thấy người thật. Lại lấy làm may đã có chút công lao với nàng nên một lần nữa xin cho được thấy dung nhan. Đến đêm nàng tới cảm ơn. Dương nói công cho Vương, rồi đạo đạt ý của bạn. Nàng đáp:
- Công lao giúp đỡ, nghĩ chẳng dám quên, nhưng anh ta dáng dấp hùng dũng, thực lòng thiếp sợ lắm!
Lát sau lại nói:
- Anh ta thích thanh bội đao của thiếp. Thanh đao ấy vốn thực cha thiếp mua ở Việt Trung, giá một trăm đồng vàng. Thiếp thích nên mới được giữ, lại tết bằng dây kim tuyến, giát bằng ngọc minh châu. Phụ thân thương thiếp chết yểu, chôn nó theo. Nay xin dứt lòng yêu thích đưa tặng. Thấy đao cũng như thấy thiếp vậy.
Hôm sau Dương nói lại ý nàng, Vương thích lắm. Đêm đến cô gái quả mang đao lại, dặn:
- Bảo anh ta hãy trân trọng giữ gìn. Đao này không phải là sản vật của Trung Hoa đâu.
Từ đấy, nàng lại tới lui như xưa.
Được vài tháng, bỗng một hôm nàng ngồi dưới đèn cười nhìn Dương như muốn nói điều gì, nhưng đôi ba phen đỏ mặt lại thôi. Chàng hỏi thì đáp:
- Ơn chàng yêu thương đã lâu, thiếp được tiếp hơi người sống, hàng ngày lại ăn thức ăn nấu nướng, nên bộ xương trắng đột nhiên lại có cơ hồi sinh. Song cần có tinh huyết của người sống nữa mới có thể sống lại được.
Dương cười đáp:
- Tại nàng không chịu, chứ tôi nào có tiếc gì?
Nàng nói:
- Sau khi chung đụng, chàng tất bị ốm nặng trong hơn hai chục ngày, nhưng uống thuốc vào sẽ khỏi.
Bèn cùng nhau giao hoan. Xong rồi mặc áo ngồi dậy, lại nói:
- Cần một giọt máu tươi. Chàng có thể vì yêu mà chịu đau được không?
Dương lấy con dao sắc chích vào cánh tay cho chảy máu. Cô gái nằm trên giường, bảo nhỏ vào rốn. Rồi ngồi dậy dặn:
- Thiếp không đến nữa. Chàng nhớ tính đủ kỳ hạn trăm ngày, hễ có con chim xanh đậu trên ngọn cây trước mộ thiếp kêu lên mấy tiếng thì phải đào mộ ngay.
Dương cẩn thận ghi nhớ lời dặn. Bước ra cửa rồi, nàng còn ngoảnh lại bảo:
- Hãy nhớ kỹ đừng quên nhé, sớm hay muộn đều không thể được!
Nói rồi ra đi. Hơn mười ngày sau Dương quả ốm nặng, bụng trướng lên tưởng chết. Thày lang cho thuốc uống, chàng đi ngoài ra những chất đen nhão như bùn, đúng hai mươi hôm thì khỏi.
Tính đúng một trăm ngày, chàng sai người nhà vác mai thuổng ra đợi sẵn. Khi mặt trời sắp lặn, quả thấy con chim xanh kêu lên hai tiếng. Dương mừng nói:
- Được rồi!
Bèn phát gai góc, đào mộ. Thấy quan quách đã nát mà nét mặt vẫn tươi như người sống, sờ vào còn ấm. Trùm áo, mang về, đặt chỗ nằm ấm áp, nghe có hơi thở thoảng nhẹ, mảnh như sợi tơ. Dần dần đổ cháo nóng cho, nửa đêm thì tỉnh hẳn.
Nàng vẫn thường bảo Dương rằng:
- Hơn hai mươi năm mà như một giấc mộng vậy.

Trần Thị Bảng Thanh dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,248
Posts: 13638
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 19 Aug 2022

Phòng Văn Thục


Đặng Thành Đức người phủ Khai Phong(1) du học đến đất Duyện (2), trọ trong một ngôi chùa hư nát, chép thuê cho người làm sổ đinh trong vùng.

(1) Thuộc tỉnh Hà Nam.
(2) Tức Duyên Châu, một trong chín châu thời xưa ở Trung Quốc, nay thuộc hai tỉnh Hà Bắc và Sơn Đông.


Cuối năm, đám nha dịch ai về nhà nấy, riêng Đặng ở lại, thổi cơm ăn trong chùa.
Sáng sớm, một thiếu phụ nhan sắc tuyệt đẹp gõ cửa đi vào, đến trước bàn thờ Phật đốt hương, lễ bái rồi ra. Hôm sau, lại cũng làm như vậy.
Đang giữa đêm, Đặng dậy khêu đèn, vì có việc cần làm, thì nàng đã đến từ sớm. Đặng hỏi:
- Sao đến sớm thế?
Nàng đáp:
- Chờ sáng tỏ thì người tới lộn xộn, không bằng lúc đêm hôm. Đến sớm quá, lại sợ quấy rầy giấc ngủ ngon của anh. Vừa trông thấy đèn sáng, biết anh đã dậy, nên tôi đến thôi.
Chàng nói đùa:
- Chùa không có người, ở lại mà nghỉ cho đỡ đi lại vất vả.
Thiếu phụ cười, bảo:
- Chùa không có người, thì dễ anh là ma chăng?
Đặng xem chừng có thể sàm sỡ được, đợi lễ bái xong, kéo nàng ngồi lại, đòi giao hoan. Nàng nói:
- Trước bàn thờ Phật, làm thế sao được? Tấm thân đã chẳng chốn nương náu lại còn mơ tưởng vẩn vơ.
Đặng cứ nài nỉ mãi không thôi. Nàng nói:
- Tại một làng kia, cách đây ba mươi dặm, có sáu bảy trẻ em, mời thầy dạy học mãi chưa được. Chàng hãy tới đó, hỏi thăm nhà ông Lý Tiền Xuyên, có thể được đấy. Hãy nói dối là có mang vợ đi theo, nhờ họ thu xếp cho một gian nhà. Thiếp sẽ thổi cơm nước cho chàng. Ấy mới là kế lâu dài.
Đặng sợ việc bại lộ sẽ mang tội. Nàng bảo:
- Không ngại, thiếp họ Phòng, tên là Văn Thục, tịnh không có ai thân thuộc, quanh năm ở nhờ nhà ông cậu, có ai biết đâu.
Đặng sau khi từ giã nàng, liền tới ngay làng nọ, yết kiến Lý Tiền Xuyên, quả nhiên bàn tính xong xuôi, hẹn sẽ mang gia quyến tới ngay trước tết.
Chàng quay về chùa báo cho thiếu phụ biết. Nàng hẹn sẽ đứng chờ ở giữa đường. Đặng bèn từ biệt bè bạn, thuê xe ngựa mà đi. Quả nhiên đến nửa đường thì gặp nàng, bèn xuống xe, trao dây cương cho nàng cầm. Tới phòng học, cùng sống chung rất vui vẻ, tương đắc.
Ở với nhau sáu bảy năm, rõ ràng cầm sắt hòa hợp, cũng không có ai theo dõi bắt bớ gì. Nàng bỗng sinh được một đứa con trai.
Đặng vì vợ ở nhà không sinh đẻ, nay có con thì mừng quá, đặt tên là Duyên Sinh. Thiếu phụ bảo:
- Giả vờ kết đôi, chung quy cũng khó thành chuyện thật. Thiếp sắp từ giã chàng ra đi, lại sinh ra cái của nợ này làm gì không biết!
Đặng bảo:
- Đang tính nếu số mình khấm khá, dành dụm được ít tiền, sẽ cùng nàng trốn về quê. Sao lại thốt ra như vậy?
Nàng đáp:
- Cảm ơn! Cảm ơn! Tôi không thể so vai rụt cổ cười lấy lòng để mong chị cả bao dung được. Làm * em cho người, trẻ nó khóc oe oe khó mà chịu nổi.
Đặng thanh minh rằng vợ mình không ghen. Thiếu phụ cũng chẳng nói gì.
Hơn một tháng sau, Đặng định giải tán lớp học, bàn với con trai của Lý Tiền Xuyên cùng xuất lực đi buôn. Anh này nói với thiếu phụ:
- Tôi nghĩ, tiên sinh mở lớp, chắc không bao giờ giàu có được. Nay tập đi buôn hẳn sẽ có ngày về quê.
Nàng cũng không trả lời.
Đến tối, bỗng dưng thiếu phụ bế con dậy. Đặng hỏi:
- Làm gì thế?
- Thiếp muốn đi.
Đặng vội trở dậy, chạy theo để hỏi. Nhưng cửa vẫn chưa mở mà thiếu phụ đã biến mất. Sợ hãi hết sức, mới biết rằng cô ta không phải là người. Vì hình tích của mình cũng đáng nghi nên Đặng không dám nói với ai, chỉ thác cớ là vợ mình về thăm bố mẹ.
Trước đây, lúc Đặng rời nhà ra đi, có hẹn với người vợ họ Lâu rằng cuối năm sẽ về. Thế rồi mấy năm không có tin tức gì, lại nghe đồn chàng đã chết. Người anh vợ nghĩ rằng em mình không có con, muốn cho em tái giá. Lâu thị hẹn đợi ba năm nữa. Hàng ngày nàng chỉ làm nghề kéo sợi để sinh nhai. Một hôm, trời đã nhá nhem, nàng ra đóng cổng ngoài thì gặp một thiếu phụ bước vào, trong lòng ẵm một đứa bé đang nằm trong tã, nói rằng:
- Tôi từ nhà mẹ đẻ trở về, đến đây vừa tối. Được biết chị ở một mình, nên xin nghỉ nhờ một đêm.
Lâu thị mời vào. Đến nhà trong, nhìn kỹ mới biết là một người đẹp, tuổi trạc ngoài hai mươi, lấy làm mừng, để nằm chung giường và đùa chơi với em bé. Thấy em bé trắng như hòn bột(1), bèn than rằng:

(1) Nguyên văn: “trắng như quả bầu”, chúng tôi dịch thoát.

- Mụ góa này lại không có được một mụn con như vậy.
Cô gái bảo:
- Tôi đang hiềm vì nỗi nuôi nó phiền hà quá. Muốn cho quách chị làm con nuôi để nối dõi về sau, chị thấy thế nào?
Lâu thị đáp:
- Chẳng nói gì đến chuyện cô không nỡ lòng dứt tình máu mủ với cháu, dù có thế thật, tôi cũng không có sữa đâu mà nuôi cháu.
Cô gái nói:
- Có khó gì đâu. Ngày sinh cháu, tôi cũng lo mất sữa, chỉ uống có nửa liều thuốc là công hiệu ngay. Nay vẫn hãy còn một nửa liều đây, xin để biếu chị.
Bèn lấy ra một gói đặt trước cửa sổ.
Lâu thị cũng ừ ào cho qua, chưa nghĩ ngay được có điều gì khác lạ đã ngủ mất. Khi tỉnh giấc, gọi lên, thì đứa trẻ vẫn còn đó, mà cô gái đã mở cửa đi rồi. Nàng sợ quá.
Đến nửa buổi, đứa bé đói kêu khóc. Lâu thị bất đắc dĩ phải uống thử tễ thuốc kia. Chốc lát, đã có sữa cho đứa bé bú.
Hơn một năm, đứa bé dần dần bụ bẫm, học nói bi bô. Nàng yêu mến chẳng khác gì con mình đẻ ra. Do đó, ý định cải giá mới thôi hẳn. Chỉ khổ nỗi từ sáng sớm đã trở dậy bế con, không làm ăn gì được, nên ngày càng túng quẫn.
Một hôm cô gái bỗng lại tìm đến. Sợ cô ta đòi lại con. Lâu thị trước hết trách ngay cái tội ra đi không nói với mình, rồi mới kể đến nỗi khó nhọc nuôi nấng đứa bé. Cô gái cười:
- Chị kêu ca khó nhọc để tôi không đòi con nữa chứ gì?
Bèn vẫy gọi đứa bé. Nó khóc, sà vào lòng Lâu thị.
Cô gái nói:
- Con nghé con không chịu nhận mẹ nó nữa rồi! Của này dẫu có trăm lạng vàng cũng không thể đổi được. Hãy đem tiền ra đây ta sẽ làm khoán ước hẳn hoi.
Lâu thị tưởng thật, mặt đỏ bừng. Cô gái cười:
- Chị chớ lo. Em lại đây chính vì cháu đấy! Sau khi ra đi, lo chị không có gì nuôi cháu, nên tìm đủ mọi cách dành dụm được hơn mười đồng vàng đem tới đây.
Bèn trao vàng cho Lâu. Lâu thị sợ rằng nếu nhận số vàng đó thì cô ta sẽ có cớ để bắt con lại, nên nhất quyết từ chối.
Cô gái đặt số vàng giữa đường, ra cửa đi thẳng.
Nàng bế con theo ra, thì đi đã xa, gọi cũng không ngoái lại. Ngờ rằng có ác ý, nhưng được số vàng đem cho vay kiếm lời, cả nhà cũng no đủ.
Ba năm sau, Đặng buôn bán dư dật, sắm sửa hành trang trở về nhà. Đang chuyện trò an ủi vợ, Đặng thấy có đứa bé, hỏi con ai, vợ kể lại duyên do. Hỏi:
- Tên là gì?
- Mẹ nó gọi nó là Duyện Sinh(1).

(1) Có bản thêm vào: “Tôi cũng cứ để như vậy”.

Chàng sửng sốt bảo:
- Thế thì nó chính là con ta đấy.
Hỏi lại ngày giờ thì đúng vào đêm thiếu phụ từ biệt ra đi. Đặng bèn lần lượt kể lại những chuyện giữa mình với Phòng Văn Thục. Vợ chồng càng thêm khuây khỏa, vui mừng. Còn mong cô gái có dịp trở lại nhưng rốt cuộc vẫn biệt tăm.

Ngô Thế Long dịch


Image
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,248
Posts: 13638
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 21 Aug 2022

Công Tôn Hạ


Vùng Bảo Định(1) có chàng học sinh trường quốc học tên là Mỗ, sắp vào kinh đô nộp tiền để kiếm chức huyện doãn. Đang sửa soạn hành trang thì bị ốm, hơn một tháng không dậy được. Bỗng đứa tiểu đồng vào thưa: “Có khách đến”.

(1) Nay là huyện Kinh Xuyên tỉnh Cam Túc.

Mỗ cũng quên cả bệnh, chạy ra đón khách.
Khách ăn mặc sang trọng, thuộc loại người quyền quý. Mỗ vái chào mấy lượt rồi mời vào nhà, hỏi khách từ đâu tới. Khách đáp:
- Tôi là Công Tôn Hạ, môn khách của hoàng tử thứ mười một. Nghe tin ngài chuẩn bị hành trang vào kinh lo chức huyện doãn, ngài đã có chí ấy sao không lo ngay chức thái thú có hơn không?
Mỗ khiêm tốn từ chối, chỉ nói:
- Tôi tài lực mỏng, không dám có ước vọng quá cao. Khách xin Mỗ cứ gắng hết sức, hãy chỉ bỏ ra nửa số tiền thôi, nếu xong việc, sẽ đến nhậm sở lấy nốt.
Mỗ rất mừng, hỏi kế sách thế nào. Khách trả lời:
- Tổng đốc, tuần phủ đều là bạn rất thân của tôi. Chỉ cần đưa tạm năm nghìn quan là mọi việc xong tất. Trước mắt, ở đất Chân Định chức thái thú đang khuyết, cần phải lo tính ngay.
Mỗ ngại là vì ở ngay tỉnh nhà. Khách cười bảo:
- Ngài khéo lo nghĩ vẩn vơ. Cứ có tiền là được rồi. Còn ai hỏi đến gỗ tang gỗ tử ấy ở đất Ngô hay đất Việt làm gì.
Mỗ rốt cuộc vẫn trù trừ, ngại rằng việc này hơi trái lẽ thường. Khách bảo:
- Đừng nghi ngờ gì cả. Tôi xin nói thực với ngài: đây là chức thành hoàng ở dưới âm ty bị khuyết. Tuổi thọ của ngài đã hết. Sổ ma đã chấm rồi. Phải thừa dịp này mà xoay xở mới có thể trở thành người quý hiển ở âm phủ được.
Nói rồi lập tức đứng dậy từ biệt. Lại dặn:
- Ngài hãy tự suy tính đi, ba ngày nữa sẽ gặp lại.
Sau đó khách ra cổng, lên ngựa mà đi.
Mỗ mở mắt ra, vĩnh biệt vợ con, bảo mang tiền riêng của nhà đi mua một vạn thoi vàng giấy, đến nỗi vét hết mặt hàng đó trong quận, rồi đem chất đống giữa sân với trâu ngựa giấy, cùng các con nộm bằng rơm, đốt suốt đêm ngày, tro cao như núi.
Ba ngày sau khách đến thật. Mỗ đem tiền ra trao. Khách dẫn Mỗ đến ngay công thự. Thấy một vị quý quan ngồi ở trên điện. Mỗ bèn sụp lạy.
Quý quan hỏi qua tên họ, đoạn khuyên Mỗ những câu như “thanh liêm, cẩn thận…” rồi lấy văn bằng ra, gọi chàng tới trước án mà trao.
Mỗ rập đầu, ra khỏi công thự. Tự nghĩ: giám sinh vốn là chân thấp hèn, nếu không có xe cộ, quần áo cho rực rỡ thì không đủ để ra oai với bọn lại thuộc.
Do đó, chàng sắm thêm xe, ngựa. Lại sai bọn lính ma đem chiếc xe kết hoa về đón người thiếp yêu của mình.
Cắt đặt vừa xong, thì các đồ nghi trượng đã từ Chân Định mang tới. Suốt đoạn đường hơn một dặm, kẻ đón người đưa, dặn dò xin xỏ tấp nập ồn ào. Chàng thấy đắc ý lắm.
Bỗng toán đi trước ngừng chiêng trống, dẹp cờ quạt. Đang khi ngơ ngác sợ hãi, thấy những người cưỡi ngựa đều nhảy cả xuống, phủ phục bên đường. Người chỉ thấp độ một thước, ngựa nhỏ bằng con hồ ly.
Người đi trước xe sợ hãi nói:
- Quan đế(1) đến rồi.

(1) Tức là Quan Thánh đế quân.

Mỗ sợ quá, xuống xe phủ phục dưới đất. Từ xa trông thấy vị đế quân theo bốn năm kỵ sĩ, lỏng cương từ từ đi tới. Bộ râu ngài tốt trùm cả má, không giống hẳn với hình dáng trong tranh người ta thường vẽ. Nhưng thần thái thì uy nghi dũng mãnh. Mắt dài gần tới mang tai.
Quan đế ngồi trên ngựa hỏi:
- Quan nào đây?
Người đi theo đáp:
- Viên thái thú Chân Định.
Đế quân nói:
- Ru rú trong một quận sao dám phô trương thế này.
Mỗ nghe thấy, giật nảy mình, tóc tai run lẩy bẩy, co rúm người lại, tự thấy mình chỉ còn như đứa trẻ sáu bảy tuổi.
Đế quân bảo dậy, đi bộ theo sau chân ngựa. Bên cạnh đường có tòa cung điện, đế quân vào đó, ngồi ngoảnh mặt về hướng Nam, sai lấy bút giấy, đưa cho Mỗ, bảo tự ghi họ tên, quê quán vào đó.
Mỗ viết rồi trình lên. Đế quân xem xong nổi giận nói:
- Chữ viết nguệch ngoạc, không ra hình thù gì cả. Đây là thằng buôn nước bọt ở chợ, sao có thể giao cho trị dân được?
Lại sai xét trong sổ ghi chép công đức. Bên cạnh có một người quỳ tâu, không rõ nói câu gì. Đế quân lớn tiếng bảo:
- Cầu cạnh tiến thân là tội nhỏ, mua quan bán tước là tội nặng.
Lập tức bị thần Kim giáp lấy dây xích trói lại, đem đi. Rồi có hai người bắt Mỗ ra, lột hết áo mũ đánh cho năm chục roi, cặp mông hầu như rụng hết thịt, đoạn tống ra khỏi cổng.
Nhìn khắp bốn phía, xe ngựa đã sạch không. Mỗ đau đớn không thể bước đi được, đành nằm thở trên vạt cỏ. Nhận kỹ chỗ mình nằm thì thấy cách nhà không xa lắm. May sao thân nhẹ bỗng như tàu lá, nên mất một ngày một đêm mới bò về được đến nhà. Thốt nhiên, chàng đứng dậy như đang mơ chợt tỉnh, rên rỉ trên giường. Người nhà xúm lại hỏi han. Mỗ chỉ kêu rằng bắp đùi đau lắm. Vì chàng mê man như chết đã bảy ngày rồi, đến lúc này mới tỉnh lại. Chàng hỏi:
- Cô Lân đâu, sao không tới?
Đó là tên tự người vợ bé của Mỗ. Trước đây, cô Lân đang ngồi trò chuyện, bỗng nhiên nói:
- Ông ấy đã làm thái thú quận Chân Định, sai lính về đón ta đấy.
Nói rồi trở vào buồng trang điểm thật đẹp, trang điềm xong thì chết, cũng mới qua một đêm thôi.
Nghe người nhà kể lại sự lạ đó, Mỗ hối hận đấm ngực, bảo để thi hài lại đó, không được chôn, hy vọng cô ta sẽ tỉnh lại. Nhưng qua mấy ngày vẫn không thấy tăm hơi gì, đành phải mai táng.
Bệnh của Mỗ đỡ dần, nhưng vết thương ở đùi lại rất nguy kịch, nửa năm mới dậy được. Chàng thường tự bảo:
- Tiền của để lo chức quan đã hao phí hết, lại chịu hình phạt tai ác dưới âm ty. Những thiệt thòi đó còn có thể chịu được, duy người thiếp yêu không biết đi đâu mất, thì những lúc canh khuya, chịu sao cho nổi.

Ngô Thế Long dịch




Image
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,248
Posts: 13638
Joined: 22 Mar 2009
 
 

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 21 Aug 2022

Đại Nam


Hề Thành Liệt là một sĩ nhân ở Thành Đô(1). Có một vợ và một người thiếp. Người thiếp họ Hà, tiểu tự là Chiêu Dung. Người vợ chết sớm, bèn lấy vợ kế họ Thân, tính đố kỵ nhau, ngược đãi người thiếp họ Hà, làm khổ cả đến Hề, suốt ngày inh ỏi, khó mà chịu nổi. Hề giận dữ, bỏ đi mất.

(1) Tên phủ, thuộc tỉnh Tứ Xuyên.


Sau khi chồng đi, họ Hà sinh được một trai đặt tên là Đại Nam. Hề lâu ngày không trở về, Thân gạt Hà ra, không thổi cơm chung, cứ ngày ngày đong phần thóc cấp cho. Đại Nam lớn dần, thóc ăn không đủ nữa, Hà phải dệt vải để kiếm ăn. Đại Nam thấy ở trường học, các trẻ ngâm nga đọc sách, cũng muốn đi học. Mẹ cho là hãy còn bé quá, nhưng cũng dắt đến trường cho học thử. Đại Nam sáng dạ, sức học gấp đôi các trẻ khác. Thầy lấy làm lạ, tình nguyện không đòi tiền học. Hà bèn cho con theo học thầy, biếu lễ chút đỉnh. Được hai, ba năm đã đọc thông kinh sách. Một hôm, đi học về, nói với mẹ rằng:
- Trong trường có năm sáu đứa đều xin tiền cha mua quà bánh, sao con lại không có?
Mẹ nói:
- Chờ lúc nào con lớn lên, mẹ sẽ cho con biết.
Đại Nam hỏi:
- Con nay đã bảy, tám tuổi, bao giờ mới là lớn?
Mẹ bảo:
- Con đến trường đi qua miếu đức Thánh Quan thì nên vào lạy, ngài sẽ phù hộ cho chóng lớn.
Đại Nam tin lắm, ngày hai buổi đi qua đều vào lạy. Mẹ biết thế, hỏi:
- Con khấn điều gì?
Cười đáp:
- Chỉ xin sang năm ngài cho con lớn bằng mười lăm, mười sáu tuổi.
Mẹ cười. Song Đại Nam sức học và hình vóc đều lớn mau, mới mười tuổi mà đã như mười ba mười bốn tuổi; văn bài cậu làm, bài nào văn chương cũng trôi chảy(1). Một hôm, nói với mẹ rằng:
- Trước kia, mẹ nói con lớn lên, mẹ sẽ cho con biết cha ở đâu, bây giờ đã đến lúc rồi đấy!
Mẹ bảo:
- Chưa đâu, chưa đâu!
Lại hơn một năm nữa, đã như người lớn hẳn hoi, càng gạn hỏi luôn luôn. Mẹ bèn thuật lại ngành ngọn. Đại Nam nghe nói, thương cảm khôn xiết, muốn đi tìm cha. Mẹ nói:
- Con hãy còn non trẻ quá, cha còn hay mất chưa biết, làm sao tìm được ngay?
Đại Nam không nói gì mà bỏ đi, đến giữa trưa không về, bèn đến hỏi ở trường, thì thấy nói sau giờ cơm sớm chưa trở lại trường. Mẹ cả kinh, thuê người đi tìm kiếm khắp nơi mà không thấy có tung tích gì.

(1) Có bản là: “Những bài văn cậu làm, thầy không thể chữa được”

Đại Nam ra khỏi cửa, cứ thẳng đường mà đi miết, nhưng mù mờ chẳng biết nên đi đâu. Gặp một người đang định đi Quỳ Châu, nói mình họ Tiền. Đại Nam ăn xin và đi theo. Tiền thấy đi chậm quá phát mệt, thuê cho một con lừa, tiền lưng cạn hết(1). Đến Quỳ, cùng nhau ngồi ăn, Tiền lén bỏ thuốc vào thức ăn. Đại Nam mê man bất tỉnh. Tiền chở đến một ngôi chùa lớn, giả thác là con mình, không may bị ốm giữa đường, hết tiền ăn, muốn đem bán cho nhà chùa. Tăng đồ thấy mặt mũi khôi ngô khác thường, tranh nhau mua. Họ Tiền lấy được vàng rồi ra đi. Tăng chúng đổ thuốc cho Đại Nam, dần dần tỉnh, sư cụ biết tin đến xem, thấy tướng mạo rất lạ, gạn hỏi ngọn ngành, lại càng thương, bèn giúp tiền bạc rồi cho đi.

(1) Có bản: “chịu cả tiền ăn đường”


Có thư sinh họ Tưởng ở Lô Châu, đi thi không đỗ trở về, trên đường gặp hỏi biết duyên cớ, khen là hiếu, kết làm bạn đồng hành. Đến Lô Châu, cho ở trong nhà mình hơn một tháng, gặp ai cũng hỏi. Có người mách rằng trong đám thương nhân đất Mân có người họ Hề, bèn từ biệt họ Tưởng để đi Mân. Tưởng giúp cho áo quần giày dép, xóm làng cũng góp nhau giúp tiền ăn. Trên đường gặp hai khách buôn vải đi Phúc Thanh, mới cùng kết bạn đường. Được vài ngày, khách dòm được tiền trong dãy của Đại Nam, bèn đem đến chỗ vắng, trói tay trói chân, cướp hết mà đi. Vừa có ông cụ họ Trần người Vĩnh Phúc đi qua đấy, cởi trói dìu lên xe, chở về nhà mình, ông cụ là một nhà cự phú, thương nhân các trấn phần lớn đều từ cửa nhà cụ mà ra. Cụ dặn các khách buôn Nam Bắc hỏi dùm tin tức của Hề, và giữ Đại Nam ở lại làm bạn đọc sách với các con của mình. Đại Nam bèn ở lại, không đi đây đi đó nữa, từ đó nhà càng xa, tin tức càng nghẽn.
Hà Chiêu Dung sống cô quạnh ba bốn năm, Thân thị xén bớt phần ăn, đè nén đến điều, bắt phải tái giá. Hà ý chí không chút lung lay. Thân ép bán cho một lái buôn Trùng Khánh. Lái buôn bắt cóc đem đi. Đến đêm Hà lấy dao cứa cổ. Lái buôn không dám bức, chờ cho vết thương lành lặn, đem bán lại cho một khách buôn ở Diêm Đình. Hà tự xẻ lồng ngực, lộ rõ phủ tạng. Người khách buôn hốt quá, lấy thuốc ra buộc vết thương; khỏi rồi, chỉ muốn làm vãi. Người khách buôn bảo rằng:
- Tôi có một người bạn buôn, không có bộ phận của đàn ông, chỉ muốn tìm người may vá trong nhà, ở với người ấy cũng không khác gì làm bà vãi, mà lại cũng có thể bù lại chút vốn tôi bỏ ra.
Hà nghe theo. Người khách buôn cho xe đưa đi. Đến cửa, chủ nhân chạy ra, thì là chàng thư sinh họ Hề. Số là Hề đã bỏ nghiệp nho mà đi buôn. Người bạn buôn thấy không có vợ bèn đem Hà thị tặng cho. Gặp nhau kinh ngạc, buồn thương, kể lể những nỗi khổ sở, Hề mới biết là đã có con, đi tìm cha chưa về. Hề bèn dặn các quán trọ, dò hỏi tin tức Đại Nam mà Chiêu Dung từ phận thiếp nay trở thành chính thất. Nhưng trải qua nhiều bước gian truân, yếu đau lắm bệnh, không thể gánh vác được mọi việc, bèn khuyên chồng lấy vợ lẽ. Hề trông gương tai họa lúc trước, không chịu nghe theo. Hà nói:
- Nếu thiếp là kẻ tranh giành ngôi thứ ở nơi giường chiếu, thì trong mấy năm nay đã theo người ta mà đẻ con rồi, có còn được đoàn tụ với nhau như ngày nay nữa đâu! Vả chăng cái ách mà người ta đặt lên cổ mình, còn đau đớn âm ỉ ở trong lòng, lẽ nào tới phiên mình mình lại đem đặt lên cổ người khác!
Hề bèn dặn bạn khách buôn mua cho một người thiếp già, tuổi hơn ba mươi. Qua nửa năm, khách quả mua được thiếp đem về. Khi vào cửa, thì lại chính là người vợ họ Thân. Người nào người ấy nhìn nhau lạ lùng, kinh hãi. Trước đó Thân thị ở một mình được hơn một năm, người anh tên là Bao khuyên tái giá. Thân nghe theo, duy ruộng nương thì bị con cháu trong họ ngăn trở không cho bán. Chỉ bán các vật sở hữu, tích góp được mấy trăm đồng vàng, đem về nhà anh. Có người lái buôn ở Bảo Ninh, nghe nói thị giàu, có cả một hòm tư trang, bèn lót nhiều tiền cho Bao để lừa phỉnh thị mà cưới làm vợ. Nhưng người lái buôn thì già khụ và tàn phế, chẳng còn sức làm đàn ông nữa. Thân oán giận anh mình, không yên phận làm vợ, hết dọa thắt cổ trên giường, lại đe gieo mình xuống giếng, quấy nhiễu không chịu nổi. Lái buôn giận, lục soát tiền bạc lấy hết, định đem bán làm thiếp, nhưng ai nghe cũng chê đã lỡ thì rồi. Lái buôn ta đi Quỳ Châu, đem thị cùng đi, gặp người khách buôn cùng một cửa hiệu với Hề, vừa may lại trúng ý định, bèn mua mà mang đi. Đến khi gặp Hề thì vừa thẹn, vừa sợ, nói không ra một tiếng. Hề hỏi lại khách buôn cùng cửa hiệu cũng biết đại khái, bèn nói:
- Nếu gặp người đàn ông mạnh khỏe, thì đã ở lại Bảo Ninh, đâu có gặp nhau ở đây nữa! Âu cũng là cái số cả! Nhưng nay ta mua thiếp chứ không phải cưới vợ, vì thế, trước hết hãy vào lạy Chiêu Dung để đúng lễ vợ cả vợ bé đã!
Thân lấy làm xấu hổ. Hề nói:
- Xưa kia còn làm vợ cả, thì như thế nào?
Hà khuyên nên miễn cho thị, nhưng Hề không chịu, cầm gậy đứng trước mặt cưỡng ép. Thân bất đắc dĩ cũng phải lạy, nhưng trước sau vẫn không chịu hầu hạ, chỉ làm lụng ở phòng khác. Hà đều khoan dung cho hết, cũng chẳng nỡ xét nét siêng năng hay lười biếng. Mỗi khi chuyện trò yến ẩm cùng Chiêu Dung, Hề cứ gọi Thân thị đến hầu hạ bên cạnh. Hà muốn thay thế bằng một con hầu, Hề không nghe. Gặp lúc quan huyện lệnh họ Trần tên Tự Tông, đến nhậm chức ở Diêm Đình. Hề có việc tranh chấp nhỏ với người làng, họ bèn kiện Hề tội cưỡng bức vợ cả làm vợ lẽ. Trần Công không xét, quát mắng đuổi ra. Hề mừng lắm, nói riêng với Hà, ca ngợi ông huyện nhân đức.
Một đêm, canh đã khuya, tiểu đồng bỗng gõ cửa vào báo quan huyện lệnh đến. Hề hốt quá, vội vàng mặc áo xỏ giày, thì quan đã vào nhà trong, lại càng hoảng, không biết làm thế nào. Hà nhìn kỹ, vội vàng đi ra, nói rằng: “Con ta đây mà!” rồi khóc lên. Trần Công bèn sụp xuống đất, nức nở nghẹn ngào. Số là Đại Nam từ khi theo họ của cụ Trần đến nay đã nên quan. Lúc ông mới từ kinh đô chuyển đến, có vòng đường đi qua cố hương, mới biết hai mẹ đều đã cải giá, gục đầu thương cảm. Người trong họ biết Đại Nam đã là quan sang, đem nhà ruộng trả lại cả. Ông cho đầy tớ ở lại để sửa sang, xây cất, mong có ngày cha lại trở về. Rồi được bổ nhiệm ở Diêm Đình, lại muốn bỏ quan để tìm cha. Cụ Trần ra sức khuyên can. Vừa gặp lúc có người thầy bói bèn xin một quẻ. Thầy bói nói:
- Nhỏ thành lớn, thiếu thành trưởng, tìm trống được mái, tìm một được hai: quẻ này đi làm quan thì tốt.
Trần Công bèn đi nhậm chức. Vì không tìm được hai thân, nên không dám uống rượu. Ngày hôm ấy, nhận được đơn kiện của người làng, thấy nói đến họ Hề, có ý ngờ, lén sai người tâm phúc đi hỏi han, quả đúng là cha, bèn thừa lúc đêm tối, đi ra theo kiểu “vi hành”; gặp lại mẹ càng tin thầy bói là thần kỳ. Khi ra về, dặn chớ tiết lộ, đưa hai trăm đồng vàng, bảo bố sửa soạn hành trang trở về làng cũ. Bố tìm về đến nơi thì thấy nhà cửa mới mẻ, nuôi thêm người hầu, ngựa cưỡi, nghiễm nhiên là một đại gia.
Thân thị thấy Đại Nam giàu sang thịnh vượng thì lại càng hổ thẹn. Người anh là Bao nghe tin, đâm đơn lên quan, muốn giành lại ngôi vợ cả cho em mình. Quan điều tra được tình thực, giận nói:
- Đã tham của, khuyên em tái giá hai lần đổi chồng, còn mặt mũi nào mà tranh giành cả lẽ như ngày xưa?
Bèn truyền đem Bao ra đánh roi rất nặng.
Từ đó, danh phận rõ ràng, Thân xem Hà như em, Hà cũng xem Thân như chị, quần áo, ăn uống không một thức gì tranh phần dùng riêng. Trước kia Thân vẫn sợ Hà phục thù, đến đây lại càng thẹn thùng, hối hận. Hề cũng quên điều ác ngày xưa của thị, cho phép người nhà gọi là thái mẫu, chỉ có phong tặng(1) là không được mà thôi.

(1) Con làm quan, thì cha mẹ cũng được vua phong cho phẩm hàm, kém con một bậc.

Cao Xuân Huy dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,248
Posts: 13638
Joined: 22 Mar 2009
 
 

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 21 Aug 2022

Uông Sĩ Tú


Ở Lô Châu(1) có chàng Uông Sĩ Tú là người cứng cỏi, khỏe mạnh, nhấc bổng được cả cối đá. Hai bố con chàng đều giỏi đá bóng. Năm người bố ngoại tứ tuần, khi qua sông Tiền Đường thì bị chết đuối. Tám chín năm sau, Uông có việc đến Hà Nam, đêm đậu thuyền trên hồ Động Đình. Lúc bấy giờ trăng rằm nhô lên ở đằng Đông, mặt nước lặng trong khác nào lụa tấm. Uông đang ngắm nhìn, bỗng thấy năm người từ dưới hồ nhô lên, mang theo chiếc chiếu rất to, trải lên mặt hồ rộng ước nửa mẫu, đoạn lăng xăng bày tiệc rượu, cốc chén chạm nhau lách cách, song tiếng va dịu trầm, không giống tiếng sành sứ. Bày xong ba người ngồi xuống chiếu, hai người kia hầu rượu. Trong số người ngồi, một áo vàng, hai áo trắng, cả ba đều đội khăn màu xám cao ngất nghễu, đuôi khăn liền với vai và lưng, kiểu rất khác lạ; phải nỗi trăng sáng mênh mang, trông không được rõ lắm. Hai người hầu đều mặc áo đen, một người tựa tiểu đồng, một người tựa ông già.

(1) Tên phủ, thuộc tỉnh An Huy.

Chợt nghe người áo vàng nói:
- Đêm nay trăng đẹp tuyệt, phải uống cho thỏa thích mới được.
Người áo trắng đáp:
- Phong cảnh đêm nay chẳng khác nào cái hôm Quảng Lợi Vương thết tiệc ở đảo Lê Hoa.
Ba người chuốc rượu lẫn nhau, nâng chén phù bạch(1) nhưng nói hơi khẽ nên không nghe được câu nào nữa.

(1) Phù bạch: tên một loại chén uống rượu.


Người lái thuyền nép mình, không dám thở mạnh. Uông nhìn kỹ người hầu già thấy rất giống cha nhưng nghe tiếng nói lại không giống. Canh hai sắp tàn, bỗng một người nói:
- Nhân lúc trăng sáng thế này, nên đem bóng ra đá cho vui.
Tức thì thấy tên tiểu đồng ngụp xuống nước lấy lên một quả bóng, to đẫy một ôm, bên trong chứa đầy chất gì như thủy ngân, sáng thấu từ trong ra ngoài. Mấy người ngồi đứng cả dậy. Người áo vàng gọi ông già cùng đá. Họ đá bổng lên đến hơn một trượng, bóng đi lấp loáng chói cả mắt. Lát sau nghe “bình” một tiếng, bóng từ xa bay tọt vào trong thuyền. Uông ngứa nghề lấy hết sức đá trả, thấy bóng nhẹ lạ thường. Cú đá mạnh như phá, bóng vọt cao lên mấy lần, mỗi lần đến gần trượng, bên trong có cái gì sáng bắn ra, tia xuống tựa cầu vồng, rồi bỗng rơi xuống rất nhanh như một ngôi sao chổi lao thẳng xuống nước, sôi lên mấy tiếng ùng ục rồi mới tắt ngấm.
Mấy người trên chiếu tiệc đều nổi giận:
- Đứa trần tục quái nào dám làm chúng tao mất hứng thế?
Người hầu già cười:
- Không tồi! Không tồi! Đó là ngón “quặt sao băng”(1) của nhà tôi đấy!

(1) Quặt sao băng (lưu tinh quái): tên gọi một ngón đá bóng, người đá nhấc chân trái lên trước rồi chân phải từ phía sau đá bóng bay đi.

Người áo trắng nghe giọng bỡn cợt ấy thì trừng mắt lên, giận dữ:
- Ta đang bực mình, thằng hầu già lại dám vui đùa hả? Mau cùng thằng oắt áo đen đi bắt tên ngông cuồng kia về đây, bằng không chân cẳng chúng bay sẽ được xơi dùi đấy!
Uông liệu chẳng trốn đi đâu được nên cũng không sợ nữa, bèn xách dao đứng giữa thuyền. Thấy ông già và tiểu đồng cầm khí giới đi đến, Uông nhìn kỹ thì đúng là cha mình thật, vội vàng gọi to:
- Cha ơi! Con đây mà!
Ông già kinh sợ, nhìn con mà buồn đứt cả ruột. Tiểu đồng thấy vậy quay về ngay. Ông già bảo:
- Con trốn ngay đi kẻo chết cả hai cha con bây giờ.
Nói chưa dứt lời ba người kia đã lên cả trên thuyền.
Người nào người nấy mặt đen sì, mắt to hơn trái lựu. Chúng túm lấy ông già lôi đi. Uông cố sức giằng lại làm thuyền tròng trành đứt cả dây néo. Chàng dùng dao chém đứt được cánh tay một người rơi xuống. Người áo vàng bỏ chạy, một người áo trắng xông tới. Uông cứ nhằm đầu mà chém, hắn ngã “ùm” xuống nước rồi mất tăm.
Hai cha con đang tính trẩy thuyền ngay đêm ấy thì thấy một cái mõm rất to nổi lên khỏi mặt nước. Mõm ấy sâu, miệng như giếng, nước hồ bốn bên chảy cả vào đó, réo lên thành tiếng ào ào. Lát sau nó phụt nước lên, đánh sóng cao ngất đến tận những vì sao làm hàng vạn chiếc thuyền đều bị lắc tròng trành. Người trên hồ đều sợ hết vía. Trên thuyền của Uông có hai cái trống đá, mỗi cái nặng đến hơn trăm cân, chàng nhấc một cái ném xuống, nước bắn tóe lên vang như sấm, sóng êm dần; ném cái nữa, sóng gió lặng hẳn.
Uông ngờ cha là ma. Ông già nói:
- Cha chưa chết con ạ. Mười người đắm đò thì bọn yêu quái ăn thịt mất chín. Cha vì giỏi đá bóng mà được toàn tính mạng. Bọn yêu đắc tội với đức vương ở sông Tiền Đường nên chúng phải tránh sang hồ Động Đình này. Cả ba đứa đều là cá thành tinh, quả bóng vừa đá là bong bóng cá đấy!
Cha con mừng rỡ, chèo thuyền đi ngay lúc nửa đêm. Sáng ra thấy trên thuyền có cái vây cá, đường kính dài đến bốn năm thước, mới chợt nghĩ ra đó là cánh tay chặt đứt được đêm qua.

Phạm Tú Châu dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,248
Posts: 13638
Joined: 22 Mar 2009
 
 

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 21 Aug 2022

Thư sinh họ Đổng (Đổng Sinh)


Thư sinh họ Đổng, tên tự là Hà Tư, người ở ấp Tây Thanh Châu(1). Vào tháng đông, trời gần tối, chàng trải chăn ra giường và đốt lò than. Đang định thắp đèn thì vừa có người bạn mời đi uống rượu, bèn đóng cửa mà đi.

(1) Một trong chín châu ở Trung Quốc xưa, nay thuộc tỉnh Sơn Đông.

Đến chỗ bạn, thấy trong đám bạn cùng ngồi có một thầy lang sành xem mạch thái tố(2), chẩn mạch cho khắp mọi người. Sau cùng, nhìn đến thư sinh Vương Cửu Tư và chàng Đổng, ông thầy nói:

(2) Mạch thái tố: mạch xem để biết sang hèn, thọ yểu.

- Tôi xem cho người đã nhiều, chưa thấy ai có mạch lạ như hai ông: mạch thì sang mà có điềm hèn, mạch thọ mà có điềm yểu. Thật bỉ nhân chẳng dám hiểu ra sao nữa. Mà riêng ông Đổng lại càng lạ lắm.
Mọi người cùng kinh ngạc, hỏi xem. Ông lang đáp:
- Thuật của tôi chỉ biết đến đây là cùng rồi, không dám đoán liều nữa. Chỉ xin hai ông cẩn thận mà thôi.
Hai người mới nghe, sợ lắm, sau rồi cũng nghĩ là câu nói mơ hồ, chẳng để tâm nữa.
Nửa đêm, Đổng ra về, thấy cửa phòng học khép hờ, ngờ quá. Đang lúc say, tự nghĩ lại, tất là khi đi vội vã, quên khóa cửa. Vào phòng, chưa kịp đốt đèn, hãy đưa tay sờ vào trong chăn trước xem có ấm hay không. Vừa mới thọc tay vào, đụng ngay da thịt mịn màng của ai đang nằm sẵn, kinh ngạc hết sức, vội rụt tay lại. Đốt gấp đèn lên, thì ra một cô em tuyệt mỹ, mặt sáng sủa, tuổi còn non, không khác gì thần tiên. Mừng cuống cuồng, đùa bỡn đưa tay xuống phần dưới cơ thể, thì xù xù một nắm lông đuôi. Hốt hoảng quá, định chạy, cô gái đã tỉnh dậy, đưa tay ra nắm lấy cánh tay hỏi:
- Chàng đi đâu?
Đổng càng sợ, người run lên, năn nỉ xin người tiên tha cho. Cô gái cười, nói:
- Thấy cái gì mà cho người ta là tiên?
Đổng đáp:
- Tôi chẳng sợ phần đầu mà sợ phần đuôi.
Cô gái lại cười bảo:
- Đuôi đâu mà đuôi? Anh lầm rồi.
Đoạn cầm tay Đổng kéo vào cho sờ lại, thì thịt ở đùi mềm mại như mỡ, chỗ xương cụt nhẵn thín.
Cô gái cười hỏi:
- Thế nào? Rượu say mê mẩn, chẳng biết thấy gì đâu đâu mà lại vu cho người ta như vậy?
Đổng vốn thấy đẹp đã thích rồi, nay hết sợ lại càng mê mẩn, nghĩ lại tư cách là mình lầm. Nhưng vẫn còn điều nghi ngờ, không hiểu nàng vì sao mà đến. Nàng đáp:
- Anh không nhớ cô bé tóc vàng nhà hàng xóm phía Đông sao? Bấm đốt ngón tay, từ lúc rời đi nơi khác, đến nay đã được mười năm rồi. Lúc ấy tôi chưa cài trâm, mà anh cũng còn để tóc trái đào cơ đấy.
Đổng chợt nhớ lại, hỏi:
- Thế em là cô Tỏa nhà họ Chu đấy ư?
Nàng đáp:
- Phải đấy.
Đổng nói:
- Bây giờ em nói, anh mới phảng phất nhớ lại. Mười năm không gặp, thế mà đã thành người yểu điệu như thế này rồi đấy. Nhưng sao vội vàng mà lại đến được đây?
Cô gái nói:
- Thiếp lấy phải thằng chồng đần, được đâu bốn, năm năm, cha mẹ chồng theo nhau qua đời, lại chẳng may chồng cũng vừa mới mất. Nay thiếp một mình, hiu quạnh không nơi nương tựa. Nhớ lại người quen biết thuở nhỏ chỉ còn có mình chàng, nên cố gượng tìm đến gặp. Vừa tới cổng thì trời tối, xảy lại có người mời chàng đi uống rượu, bèn lén nấp để đợi chàng về. Đợi đã lâu, chân lạnh cóng, nổi cả da gà lên, nên phải nhờ cái chăn cho ấm người lên một chút, xin chớ ngờ nhau.
Đổng mừng cởi áo cùng ngủ, lấy làm đắc ý lắm.
Được hơn một tháng, người dần gầy rộc hẳn đi. Người nhà lấy làm lạ, hỏi, thì nói là không biết. Càng lâu, mặt mũi càng gầy võ. Mới đâm hoảng, vội đi tìm ông thầy chẩn mạch giỏi hồi trước, nhờ chẩn cho. Thầy lang đáp:
- Đây là mạch bị yêu quái ám rồi. Cái điềm chết ngày trước, nay quả đã nghiệm. Bệnh không thể làm gì được nữa.
Đổng khóc hu hu, không chịu đi. Thầy lang bất đắc dĩ phải châm cho ở tay, đốt ngải cứu cho ở rốn, rồi đem thuốc tặng cho, dặn rằng:
- Nếu có gặp gì đấy thì phải cố gắng mà dứt đi.
Đổng cũng tự biết nguy hiếm, về đến nhà, cô gái cười cợt đứng đón. Chàng tức mình nói:
- Đừng dan díu với nhau nữa. Tôi sắp chết rồi đây.
Nói rồi bước đi không ngoái lại. Cô gái xấu hổ quá, cũng tức lên mà nói:
- Mày còn muốn sống nữa ư?
Đến đêm, Đổng uống thuốc rồi ngủ một mình. Vừa mới chợp mắt, đã mộng thấy giao hợp cùng cô gái, tỉnh dậy thì tinh đã chảy ra rồi. Càng sợ, bèn dời giường vào phòng trong, vợ con đốt đèn canh giữ. Nhưng vẫn mơ thấy như cũ. Lén nhòm cô gái thì không thấy đâu nữa. Được mấy hôm, Đổng thổ ra hơn một đấu huyết mà chết.
Vương Cửu Tư đang ở trong phòng học, thấy một cô gái tìm đến, mê thích vì sắc đẹp nên thông gian cùng nàng. Hỏi ở đâu đến thì đáp:
- Thiếp là láng giềng nhà Hà Tư. Anh ấy trước thân thiện với thiếp lắm, không ngờ bị hồ mê hoặc mà chết. Cái giống yêu quái ấy thật đáng sợ. Phàm người đã học đến sách vở, phải nên cẩn thận giữ gìn.
Vương càng phục, bèn ân ái với nhau để đáp lại. Được vài hôm, đâm mê hoảng, gầy ốm. Chợt thấy Đổng về bảo:
- Kẻ đang cùng anh đắm đuối là hồ đấy. Giết hại tôi rồi, nó lại còn muốn giết hại cả bạn tôi nữa. Tôi đã kiện nó ở dưới Âm ty, để rửa mối hờn. Trong vòng bảy hôm, cứ đêm đêm anh nên thắp hương ở bên ngoài nhà mình, đừng có quên.
Tỉnh dậy, lấy làm lạ, nói với cô gái:
- Tôi ốm lắm, e sắp bỏ thân nơi ngòi rãnh đến nơi, có người khuyên nên kiêng chuyện vợ chồng.
Cô gái đáp:
- Mệnh đáng thọ, dẫu gần vợ vẫn sống, mệnh không thọ thì không gần vợ vẫn chết.
Lại ngồi kề bên mà cười đùa. Vương kìm mình không được, lại cùng nàng lăn lóc. Xong rồi thì hối, nhưng không sao dứt hẳn được.
Đến tối, cắm hương ở trên cửa. Cô gái đến, nhổ vứt đi. Đêm lại mộng thấy Đổng về, trách sao không nghe lời dặn. Đêm hôm sau, ngầm dặn người nhà chờ lúc mình ngủ rồi hãy lén đốt hương lên. Cô gái đang ở trên giường bỗng hoảng hốt nói:
- Lại đốt hương nữa đấy à?
Vương đáp:
- Không biết.
Nàng vội trở dậy rút hương bẻ dụi tắt đi, rồi trở vào nói:
- Ai xúi anh làm như vậy?
Vương đáp:
- Có thể là người nhà lo anh đau ốm, tin lời thầy bói, làm để trừ tà đấy thôi.
Cô gái thảng thốt không vui. Người nhà lén dòm thấy hương tắt, lại đốt nén khác; cô gái chợt thở dài, bảo:
- Phúc trạch của anh còn dày thật. Tôi đã giết lầm Hà Tư mà chạy đến với anh, thật đúng là lỗi của tôi. Tôi sắp phải cùng anh ta đến đối chất trước tòa án Âm ty. Nếu anh không quên chút tình cũ, xin chớ làm hỏng mất cái túi da của tôi.
Nói xong, rụt rè bước xuống giường, ngã lăn ra đất mà chết. Đốt lửa soi đã thành một con chồn. Còn sợ nó sống lại, vội gọi người nhà lột da, treo lên.
Bệnh Vương rất nặng, thấy hồ hiện về, nói:
- Tôi đã đến thưa ở pháp tòa. Pháp tòa bảo chàng Đổng thấy gái mà mê, chết là đáng tội. Nhưng cũng buộc tội tôi mê hoặc người không đúng, thu mất viên kim đan, rồi lại cho sống lại. Vậy túi da của tôi ở đâu.
Đáp:
- Người nhà không biết đã đem lột mất rồi.
Hồ thảm đạm nói rằng:
- Ta giết người đã nhiều, nay chết kể cũng đã muộn. Nhưng anh thật nhẫn tâm thay!
Hờn giận mà bỏ đi. Vương ốm tưởng nguy, nửa năm mới khỏi.

Nguyễn Đức Lân dịch

Image
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,248
Posts: 13638
Joined: 22 Mar 2009
 
 

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 21 Aug 2022

Công tử họ Vi (Vi Công tử)


Công tử họ Vi, dòng dõi thế gia ở Hàm Dương(1), tính buông thả, dâm dật. Những người hầu gái có nhan sắc trong nhà không ai thoát khỏi tay chàng. Chàng từng mang theo mấy nghìn vàng ra đi, tính thưởng thức hết kỹ nữ danh tiếng trong thiên hạ. Các chốn phồn hoa không đâu không tới. Không phong nhã lắm thì ngủ lại một đêm rồi đi ngay. Còn như vừa ý thì lưu lại hàng trăm ngày.

(1) Một huyện thuộc tỉnh Thiểm Tây.

Chú ruột chàng cũng là một vị quan có tiếng, mới hồi hưu, thấy hạnh kiểm cháu như vậy thì giận lắm, bèn mời thầy giỏi về nhà, dựng một cơ ngơi riêng, bắt cháu cùng các con đóng cửa học tập. Tối đến, công tử chờ thầy ngủ rồi, trèo tường trốn về, sáng ngày mới trở lại; như thế đã thành quen. Một hôm bị trượt chân ngã, gãy cánh tay, thầy mới biết báo cho chú. Ông liền đánh thêm cho một trận bò lê bò càng rồi mới thuốc thang cho. Khi khỏi, ông lại giao hẹn: nếu học vượt hẳn các em, văn hay chữ tốt, thì đi chơi không cấm. Nhưng nếu vụng trộm giở trò phóng dật thì sẽ bị đánh đòn như trước.
Công tử rất thông minh, học thường vượt mức. Vài năm sau đậu khoa thi hương. Chàng muốn bỏ lời ước cũ, nhưng ông chú vẫn ra sức kiềm chế. Chàng lên kinh đô, ông sai một người lão bộc đi theo, giao cho một quyển sổ nhật ký, dặn phải ghi chép lời nói việc làm hàng ngày của chàng. Vì vậy liền mấy năm, chàng không có hành vi gì sai trái.
Sau khi đậu tiến sĩ, ông chú mới hơi nới lệnh cấm. Công tử muốn làm gì vẫn sợ chú biết. Vào chơi các ngõ hẻm, phải giả danh là họ Ngụy. Một hôm, qua Tây An, thấy một thiếu niên làm con hát tên là La Huệ Khanh, tuổi độ mười sáu, mười bảy, xinh đẹp như con gái. Chàng thích lắm, đêm giữ lại quấn quýt, rồi cho rất nhiều tiền. Nghe nói cô vợ mới cưới của Huệ Khanh lại còn phong nhã, tình tứ hơn, chàng ngỏ ý riêng với Huệ Khanh. Huệ Khanh không tỏ ra khó chịu, tối đến dẫn vợ tới thực. Ba người ngủ chung một giường. Lưu lại vài hôm, quyến luyến yêu đương rất mực. Bàn tính đem nhau cùng về. Hỏi tới người nhà, Khanh đáp rằng:
- Mẹ mất sớm, chỉ còn cha. Tôi vốn không phải họ La. Mẹ tôi hồi nhỏ hầu hạ trong nhà họ Vi ở Hàm Dương. Bị bán hết nhà họ La được bốn tháng thì sinh ra tôi. Nếu được theo công tử về, may ra cũng hỏi thăm được gốc gác.
Công tử kinh ngạc, hỏi đến họ của người mẹ. Khanh đáp:
- Họ Lã.
Chàng kinh hãi cực độ, mồ hôi toát đầm mình mẩy. Vì mẹ Khanh chính là thị tỳ nhà chàng trước kia.
Chàng không nói một lời. Lúc ấy trời đã sáng. Chàng cho Huệ Khanh rất nhiều tiền và khuyên cậu nên bỏ nghề. Rồi vờ thác còn có việc phải đi, hẹn khi nào trở về sẽ cho gọi, thế là chàng liền giã từ bỏ đi tuốt.
Sau được bổ làm quan huyện ở Tô Châu. Ở đây có một con hát tên là Thẩm Vi Nương, xinh nhã tuyệt trần. Chàng rất yêu, giữ lại cùng chung chăn gối. Đùa cợt, hỏi nàng rằng:
- Tiểu tự của em có phải lấy ý tứ câu thơ: “Xuân phong nhất khúc Đỗ Vi Nương” chăng?
Nàng đáp:
- Không phải thế. Mẹ em mười bảy tuổi đã là kỹ nữ nổi tiếng. Có vị công tử ở Hàm Dương cũng cùng họ với ngài, lưu lại cùng mẹ em ba tháng, thề thốt chuyện cưới xin. Công tử đi rồi, tám tháng sau thì sinh ra em. Do đó mới đặt tên là Vi. Thực ra đó là họ của em. Lúc lâm biệt công tử có tặng mẹ em đôi chim uyên ương bằng vàng, đến nay hãy còn. Sau khi công tử bỏ đi, bặt không tin tức. Mẹ em vì thế phẫn uất buồn rầu mà chết. Từ thuở lên ba, em được bà Thẩm nuôi nấng, bèn lấy theo họ Thẩm.
Công tử nghe nói, xấu hổ không còn chịu nổi. Lặng đi một lúc, chợt nảy ra một kế. Chàng chợt nhỏm dậy khêu đèn, gọi Vi Nương vào uống rượu rồi ngầm bỏ thuốc độc vào trong chén. Vi Nương vừa nuốt khỏi cổ, liền vật vã kêu rên, mọi người chạy tới, thì đã tắt thở. Chàng gọi con hát đến, giao phó tử thi, rồi đút lót cho chúng rất nhiều tiền.
Nhưng những kẻ giao hảo với Vi Nương hết thảy lại là đám con nhà thân thế. Nghe tin, chúng đều bất bình, cho tiền và xúi giục con hát kiện lên quan trên. Chàng hoảng sợ, phải dốc sạch túi chạy vạy dập đi. Cuối cùng chàng bị cách chức vì tội sa đà bừa bãi.
Trở về nhà, tuổi đã ba mươi tám, chàng rất hối hận về những việc làm khi trước, mà vợ và hầu gái năm sáu người đều không có con. Muốn xin đứa cháu nội của ông chú về làm con kế tự, nhưng ông nghĩ cửa nhà ấy vô hạnh, vợ trẻ con nhiễm phải thói xấu, nên tuy nhận cho thừa kế song phải đợi khi nào chàng già yếu mới cho sang. Chàng phẫn uất, muốn cho gọi Huệ Khanh, người nhà đều cho là không được, bèn thôi.
Vài năm sau, chàng bỗng lâm bệnh, thường đấm vào ngực mà nói rằng: “Dâm bôn với con hầu, ngủ với kỹ nữ, không phải là giống người”. Ông chú nghe thấy thế bảo:
- Thế này thì sắp chết rồi.
Bèn cho đứa con của người con trai thứ sang nhà chàng để sớm hôm nâng giấc. Hơn một tháng, quả nhiên chàng mất.

Ngô Thế Long dịch


Image
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,248
Posts: 13638
Joined: 22 Mar 2009
 
 

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 21 Aug 2022

Cô Tú (A Tú)


Lưu Tử Cố, quê ở Hải Châu(1), năm mười lăm tuổi, đến đất Cái thăm cậu, thấy trong cửa hiệu tạp hóa có một cô gái yểu điệu, xinh đẹp vô song, lòng rất yêu thích, lần vào trong hiệu giả vờ mua quạt. Cô gái lên tiếng gọi bố. Bố ra, ý định của Lưu bị cản trở, bèn cố ý trả rẻ mà lui ra. Xa trông thấy người cha đi nơi khác, lại quay lại, cô gái toan tìm bố. Lưu ngăn lại, nói:

(1) Một huyện thuộc tỉnh Giang Tô.

- Không cần, cứ nói giá, tôi không trả rẻ đâu.
Cô gái được lời, cố ý nâng giá lên. Lưu không nỡ mặc cả, rút tiền trả rồi đi. Hôm sau lại đến, lại làm như trước. Vừa đi được vài bước, cô gái gọi theo:
- Trở lại đã! Vừa rồi nói dối đấy, giá thế đắt quá!
Nhân mới lấy nửa tiền trả lại. Lưu càng cảm lòng thành thực, hễ rỗi lại đến, vì thế, ngày càng quen.
Cô gái hỏi:
- Chàng ở đâu?
Lưu cứ thực nói. Lại hỏi lại thì tự nói họ Diêu, tên là A Tú(2). Lúc Lưu sắp đi, cô gái đem những vật đã mua, lấy giấy bọc hộ cẩn thận, rồi lè đầu lưỡi, thấm ướt để dán lại. Lưu đem về không dám động đến, sợ mất hằn lưỡi của nàng.

(2) Trong bản chúng tôi dùng làm gốc cô gái không xưng tên. Nhưng xét toàn bộ câu chuyện thì không ở đâu xưng tên nữa, vì vậy chúng tôi tham khảo thêm các bản khác mà thêm vào câu này.

Được nửa tháng, người đầy tớ nhòm biết, mới ngầm cùng cậu, cố bắt Lưu phải về. Chàng bâng khuâng vơ vẩn không khuây, đem những thứ như khăn mặt, phấn, sáp đã mua cất giấu vào trong một cái tráp, lúc vắng người lại khép cửa, tự mình lần giở xem một lượt. Hễ thấy món nào cũng tưởng nhớ ngẩn ngơ.
Năm sau lại đến đất Cái. Hành lý vừa cởi, liền đến ngay chỗ cô gái. Tới nơi thì thấy cửa ngõ đóng chặt, thất vọng mà về, bụng vẫn nghĩ rằng đi đâu vắng chưa về. Sáng hôm sau, lại đến, cửa vẫn khóa như cũ. Hỏi các nhà hàng xóm mới biết, họ Diêu vốn người Quảng Ninh, vì buôn bán không lợi lắm nên tạm về quê ở, cũng không biết rõ bao giờ sẽ trở lại. Tâm thần như nghiêng, như đổ; chàng ở vài ngày rồi rầu rĩ mà về.
Mẹ bàn dạm vợ cho, nhưng mấy lần chàng đều ngãng ra. Mẹ vừa giận vừa lấy làm lạ. Người đầy tớ liền kể chuyện mấy năm trước cho mẹ biết, mẹ càng đề phòng ráo riết. Đường sang đất Cái từ đó tuyệt hẳn. Lưu đâm thảng thốt, rồi giảm ăn, kém ngủ. Mẹ lo lắng không tìm ra cách gì, bèn nghĩ: chẳng bằng theo ý con vậy.
Ngay hôm đó liền sắm sửa hành trang cho chàng sang đất Cái, lại chuyển lời nhắn với người cậu nhờ làm mối giùm. Cậu nhận lời, đến nhà họ Diêu, một lát trở về nói với Lưu:
- Việc không xong rồi. A Tú đã hứa gả cho một người ở Quảng Ninh!
Lưu cúi đầu ngao ngán, lòng nguội như tro, hy vọng mất hết. Về nhà rồi, thường ôm tráp mà khóc, bồi hồi tưởng nhớ, chỉ mong thiên hạ lại có người giống như thế. Gặp khi người mối đến, khen người con gái họ Hoàng ở Phục Châu tuyệt đẹp. Lưu sợ không đúng, bèn sai đánh xe đến đất Phục. Vào cổng Tây, thấy một nhà hướng Bắc, hai cánh cổng nửa khép nửa mở, trong đó một cô gái, giống A Tú lạ. Lại chú ý dõi theo, thấy cô gái vừa đi vừa trông lại mà vào, đích thị không sai.
Lưu rất xúc động, bèn thuê nhà ở liền bên Đông, hỏi dò kỹ thì là nhà họ Lý. Nghĩ đi nghĩ lại, chẳng lẽ thiên hạ lại có người giống nhau đến thế ư? Ở mấy hôm, không cậy ai được, chỉ hàng ngày đăm đăm trông chờ ngoài cổng, hy vọng cô gái lại có lúc đi ra.
Một hôm, mặt trời vừa xế về Tây, cô gái quả ra thực, bỗng thấy Lưu, liền quay vào, lấy tay chỉ ra đằng sau, lại để bàn tay lên ngang trán, đoạn mới vào, Lưu mừng hết sức, nhưng không hiểu ý ra sao. Ngẫm nghĩ một lát, rảo bước ra sau nhà, thì thấy vườn hoang trống trải, phía Tây có một bức tường thấp chỉ độ ngang vai, mới chợt hiểu, liền ngồi phục trong đám cỏ sương. Một lúc lâu, có người từ bên kia tường thò đầu sang, khẽ hỏi: “Đã đến đấy à?” Lưu đáp: “Vâng” rồi đứng dậy, nhìn kỹ thì thật A Tú. Nhân khóc nức nở, nước mắt như dây giòng(1). Cô gái cách tường tay vuốt ve trên mình Lưu, lấy khăn lau nước mắt cho chàng, kiếm lời an ủi ân cần.

(1) Dây giòng xuống giếng để múc nước.

Lưu nói:
- Xoay xỏa trăm kế chẳng xong, tự bảo kiếp này thôi thế là thôi, nào ngờ lại có đêm nay! Nhưng sao nàng lại đến đây?
Đáp:
- Họ Lý là chú bên ngoại của thiếp.
Lưu xin trèo tường sang, cô gái nói:
- Chàng cứ về trước, bảo người nhà đi ngủ chỗ khác, thiếp sẽ tự đến.
Lưu làm như lời nàng, ngồi đợi. Một lúc, cô gái lặng lẽ bước vào, ăn mặc không lộng lẫy lắm, vẫn quần áo ngày trước. Lưu kéo ngồi xuống, kể lể nỗi nhớ. Nhân hỏi.
- Nghe nói nàng đã nhận lời người ta, sao còn chưa cưới?
Cô gái nói:
- Ai bảo thiếp đã nhận lời là nói sai đấy. Cha thiếp thấy đường sá xa xôi không muốn gả thiếp cho chàng. Có lẽ đó là cậu nói thác ra để chàng đừng mong tưởng nữa mà thôi.
Rồi đó lên giường chung gối; lả lướt muôn nghìn cách, đưa đón thật hoan lạc, không sao nói cho hết được. Đến canh tư vội trở dậy trèo qua tường mà đi. Từ đấy, Lưu quên hẳn ý định đến nhà họ Hoàng, trọ liền nửa tháng tại đây, tuyệt không nói gì đến việc về nữa.
Một đêm, người đầy tớ dậy cho ngựa ăn, thấy trong nhà đèn còn sáng, nhòm vào thấy A Tú, sợ lắm, không dám hỏi chủ. Sáng dậy, ra hỏi các cửa hàng ngoài chợ, rồi trở về hỏi Lưu:
- Người đêm đêm vẫn đi lại với công tử là ai vậy?
Lúc đầu Lưu chối, người đầy tớ nói:
- Nhà này vắng vẻ, là nơi quỷ hồ tụ tập, công tử nên giữ gìn. Cô gái họ Diêu làm gì mà đến chốn này?
Lưu mới thẹn nói:
- Nhà hàng xóm phía Tây là chú bên ngoại của nàng, có gì mà ngờ.
Người đầy tớ đáp:
- Tôi đã hỏi kỹ. Nhà bên Đông chỉ có một bà cụ già, nhà bên Tây chỉ có một người con trai còn nhỏ, ngoài ra chẳng có thân thích nào nữa. Người cậu gặp gỡ đây, tất là ma quỷ, nếu không, chẳng lẽ cái áo mấy năm vẫn không thay? Vả lại da mặt trắng quá, hai má lại hơi gầy, lúc cười không thấy lúm đồng tiền, không đẹp bằng A Tú.
Lưu suy đi nghĩ lại, đâm hoảng, nói:
- Bây giờ làm thế nào?
Người đầy tớ bàn tính đợi cô gái đến, cầm binh khí xông vào cùng đánh. Chập tối, cô gái đến, nói với Lưu rằng:
- Biết chàng sinh lòng ngờ vực, nhưng thiếp cũng không có ý gì khác, chẳng qua cho trọn cái duyên phận với nhau thôi.
Nói chưa dứt, người đầy tớ đẩy cửa xông vào. Cô gái mắng:
- Bỏ ngay binh khí xuống, rồi mau mang rượu đến đây, để ta từ biệt chủ nhân.
Người đầy tớ tự nhiên ném dao xuống như bị người giằng lấy. Lưu càng sợ, cố gắng tiếp rượu. Cô gái cười như thường, giơ tay chỉ vào Lưu mà nói:
- Biết tâm sự chàng, vẫn định lo toan giúp chàng chút ít, sao lại nỡ phòng bị ngầm? Thiếp tuy không phải A Tú, nhưng cũng tự cho mình không kém. Chàng tự nhìn kỹ xem, không phải ư?
Lưu rợn hết chân lông, miệng đờ ra không nói được. Cô gái nghe canh đã sang ba, liền cầm chén hớp một hớp, đứng dậy nói:
- Tôi hẵng đi đã, đợi đến sau hôm động phòng hoa chúc sẽ lại đến so với người đẹp của chàng xem ai hơn ai kém.
Đoạn quay mình ra, biến mất.
Lưu tin lời hồ nói, lại sang đất Cái. Oán cậu nói dối mình, không đến nhà cậu nữa mà trọ ở gần nhà họ Diêu, nhờ mối đến nói chuyện, đút cho nhiều tiền. Bà vợ họ Diêu nói:
- Chú nó định kiếm chồng cho cháu ở Quảng Ninh nên ông nó sang đấy. Việc thành hay không chưa thể biết; phải đợi ông ấy về, mới có thể bàn được.
Lưu nghe nói, bàng hoàng không biết làm thế nào, đành phải cố đợi ông Diêu về.
Được hơn mười ngày, bỗng nghe có loạn, còn ngờ là lời đồn huyễn; lâu về sau, tin càng gấp, bèn thu xếp hành trang ra đi. Giữa đường gặp loạn thầy tớ lạc nhau, Lưu bị quân trinh sát bắt. Thấy Lưu là học trò yếu đuối họ cũng lơ là việc canh phòng, Lưu liền ăn trộm ngựa trốn đi. Đến giáp giới Hải Châu, thấy một người con gái, đầu tóc rối bù, mặt mũi nhem nhuốc, bước chân thất thểu, dường không lê nổi. Lưu ruổi ngựa vượt lên trước, cô gái vội vàng gọi:
- Người cưỡi ngựa có phải là chàng Lưu đó không?
Lưu dừng roi lại, nhìn kỹ thì ra là A Tú. Bụng còn sợ là hồ, liền hỏi:
- Nàng là A Tú thực đó chăng?
Cô gái hỏi:
- Tại sao lại hỏi câu đó?
Lưu kể những chuyện mình đã gặp. Cô gái nói:
- Thiếp là A Tú thực. Cha thiếp đem thiếp từ Quảng Ninh về, gặp loạn bị bắt, họ đưa ngựa cho cưỡi, nhưng mấy lần bị ngã. Chợt một người con gái nắm lấy cổ tay lôi đi, trốn lẩn lút trong đám quân cũng không có ai hỏi. Cô gái ấy đi nhanh như cắt, thiếp khốn khổ mà không theo kịp, mới độ trăm bước đã mấy lần tụt lại sau. Một lúc lâu, nghe thấy tiếng người reo ngựa hý xa dần, mới buông tay thiếp ra, nói:
- Từ giã thôi! Đường trước mặt đều yên ổn, có thể thủng thẳng mà đi; người yêu của em cũng sắp đến, nên theo chàng cùng về.
Lưu biết đấy là hồ, lấy làm cảm kích, nhân kể rõ vì sao mình lưu lại ở đất Cái. Cô gái nói rằng chú nàng định gả cho người họ Phương, chưa kịp ăn hỏi thì gặp loạn. Lưu mới biết lời cậu nói không phải là dối trá. Bèn đỡ nàng lên ngựa, cùng cưỡi về.
Vào cổng, mẹ già vẫn không việc gì, Lưu rất mừng, bèn buộc ngựa mà vào nhà, kể chuyện đầu đuôi. Mẹ cũng mừng, liền sửa soạn cho cô gái đi tắm rửa. Nàng trang điểm, dung nhan lộng lẫy, mẹ vỗ tay nói:
- Chả trách thằng con si mộng hồn không lúc nào yên.
Bèn trải đệm bảo cô gái nằm cùng với mình. Lại sai người đến đất Cái đưa thư cho họ Diêu biết. Chưa được mấy ngày, vợ chồng Diêu cùng đến, chọn ngày lành cho con gái thành hôn rồi mới đi.
Lưu đem cái tráp mình cất giữ ra, dấu phong còn nguyên vẹn. Có hộp phấn mở ra thì hóa ra đất đỏ. Lưu lấy làm lạ. Cô gái bưng miệng cười nói:
- Vụ trộm mấy năm trước, nay bị phát giác rồi. Ngày ấy, thấy chàng để mặc thiếp tự gói, không xem lại thật giả, nên làm thế để bỡn nhau đấy thôi.
Đang lúc cười đùa, một người vén màn bước vào nói:
- Thích ý như thế, thì phải tạ ơn bà mối chứ?
Lưu nhìn lại thì lại một A Tú nữa, vội gọi mẹ.
Mẹ và người nhà đều cùng đến, mà không ai phân biệt được. Lưu vừa đảo mắt một cái cũng lẫn luôn. Phải chú mục giây lâu mới biết mà vái tạ. Cô gái ấy tìm gương tự soi, rồi thẹn thùng đi vội ra, theo tìm thì đã biến mất rồi. Vợ chồng cảm nghĩa, lập bài vị thờ trong nhà.
Một đêm, Lưu uống rượu say về, trong nhà tối tăm không có ai, đương tìm đèn để thắp thì A Tú đến. Lưu kéo lại hỏi đi đâu, cười nói rằng:
- Hơi men sặc người, làm người ta không chịu được. Như thế mà còn tra hỏi vòng vo! Ai đã trốn vào ruộng dâu đâu nào!
Lưu cười nâng hai má nàng lên. Cô gái nói tiếp:
- Chàng trông thiếp với chị hồ ai hơn?
Lưu nói:
- Mình đẹp hơn, nhưng người nào chỉ xem bề ngoài thì không sao phân biệt được.
Thế rồi khép cửa lại ôm nhau giao hợp, chốc lát có tiếng gõ cửa, cô gái liền đứng dậy cười nói:
- Chàng cũng là kẻ chỉ biết xem bề ngoài thôi
Lưu chưa hiểu, ra mở cửa thì A Tú bước vào, rất kinh ngạc, mới biết người cùng nói chuyện vừa rồi là hồ. Trong đêm tối lại nghe thấy tiếng cười. Hai vợ chồng trông vào quãng không mà vái, cầu xin nàng hiện hình trở lại. Hồ nói:
- Tôi không muốn trông thấy A Tú.
Hỏi:
- Sao không biến thành khuôn mặt khác?
Nói:
- Không thể được.
Hỏi tại sao, nói rằng:
- A Tú là em gái tôi, kiếp trước không may chết yểu. Khi còn sống, cùng tôi theo mẹ lên thiên cung, thấy Tây Vương Mẫu đem lòng yêu mến, lúc về cố sức bắt chước. Em tôi thông tuệ hơn tôi, chỉ một tháng là bắt chước giống hệt, tôi học đến ba tháng mới giống mà rồi cũng không bằng nó. Đến nay đã khác kiếp(1) tự nghĩ hơn nó, không ngờ vẫn như ngày xưa. Tôi cảm lòng thành của hai người, nên thỉnh thoảng sẽ đến thăm, bây giờ thì đi đây.

(1) Nguyên văn là “cách thế” chúng tôi dịch thoát cho rõ ý tác giả.

Liền không nói gì nữa. Từ đấy, dăm ba ngày lại đến một lần, những việc gì khó khăn nghi ngại đều giải quyết được cả.
Khi A Tú về thăm cha mẹ thì đến ở luôn mấy ngày không đi, người nhà đều sợ mà tránh. Nhà có mất gì thì lại ăn mặc lịch sự, cài cái trâm đồi mồi dài mấy tấc, bắt người nhà đứng xung quanh, rồi nghiêm giọng bảo rằng:
- Vật lấy trộm, đêm nay phải mang đến chỗ ấy chỗ nọ mà để, nếu không đầu sẽ nhức buốt lên, hối không kịp đâu!
Trời sáng quả lấy lại được đúng chỗ đã bảo.
Ba năm sau, tuyệt không đến nữa. Bỗng nhiên gặp chuyện mất tiền lụa, A Tú lại bắt chước ăn mặc đúng như cô ta mà đe người nhà, cũng thường thấy kiến hiệu.

Đỗ Ngọc Toại dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,248
Posts: 13638
Joined: 22 Mar 2009
 
 

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 21 Aug 2022

Con trai người lái buôn (Cổ Nhi)


Ông nọ, người đất Sở(1) ra xứ ngoài buôn bán. Vợ ở nhà một mình, đêm nằm mơ thấy giao hợp với một người lạ. Tỉnh dậy sờ thì ra một người đàn ông bé nhỏ. Xem cung cách khác với người thường, biết là hồ. Một lát sau, bước xuống giường mà đi, cửa chưa mở đã mất hút. Đến tối phải bảo * già vào ngủ chung. Có đứa con trai mười tuổi, từ trước vẫn ngủ ở giường khác, cũng gọi đến cùng ngủ. Đêm đã khuya, * già và con đã ngủ cả, hồ lại đến, người đàn bà ú ớ như nói mê. * già biết, vội hô lên, hồ mới đi.

(1) Tên một nước ở Trung Quốc thời xưa, hiện nay thuộc tỉnh Hồ Bắc.


Từ đó, người cứ ngẩn ngơ như đánh mất vật gì. Tối đến không dám tắt đèn, dặn con không được ngủ say. Đêm khuya, con và * già tựa lưng vào tường ngủ chợp đi, một lát tỉnh dậy, mẹ đã biến mất. Tưởng đi tiểu tiện, đợi lâu không thấy trở vào, mới sinh nghi. * già sợ không dám đi tìm. Thằng con cầm đèn đi soi khắp nơi. Đến một gian buồng khác thì thấy mẹ trần truồng nằm trong đó. Lại gần nâng dậy, cũng không biết xấu hổ.
Từ đó hóa điên: hát, khóc, chửi mắng, mỗi ngày hàng vạn cách; đêm không muốn ở chung với người, cho con ngủ giường khác; * cũng cho đi chỗ khác. Đứa con mỗi khi nghe thấy tiếng mẹ cười nói, thì dậy châm lửa soi. Mẹ tức giận mắng con, con cũng chẳng để ý, vì vậy ai cũng cho rằng đứa bé gan dạ.
Nhưng thằng bé lại hay đùa nghịch quá chừng, hàng ngày bắt chước người thợ đấu(1), lấy gạch đá xếp lên cửa sổ. Ngăn nó, nó không nghe. Hoặc rút một hòn đá của nó đi, nó liền lăn ra đất kêu khóc, cho nên không ai dám chọc tức nữa. Qua mấy hôm sau, hai cửa sổ đều bị lấp kín, không còn chút ánh sáng lọt qua. Thế rồi, nó mới lấy bùn chít che tường hở, suốt ngày quần quật, không sợ mệt. Chít xong, không có việc gì làm, liền lấy dao làm bếp ra mài xoèn xoẹt. Ai trông thấy cũng ghét là gàn bướng, không coi ra người nữa. Đến nửa đêm, thằng bé giấu dao vào bụng; chụp quả bầu lên cây đèn. Đợi mẹ nói mê, lập tức mở đèn ra, chặn cửa buồng, kêu to lên. Một lúc lâu chẳng thấy gì lạ, liền rời khỏi cửa, vờ nói to lên là muốn đi tiểu tiện. Bỗng có một vật như con cáo từ khe cửa vọt ra. Vội chém nó, chỉ đứt được khúc đuôi, dài độ hai tấc, máu còn nhỏ giọt. Mới đầu nó vừa dậy khêu đèn mẹ đã mắng chửi, đứa bé cũng làm như không nghe; chém không trúng hồ, nó buồn giận đi ngủ. Tự nghĩ tuy không chém chết ngay được, nhưng có thế may ra nó không đến nữa. Đến sáng, xem vết máu thấy leo qua tường mà đi. Lần theo, thấy vào vườn nhà họ Hà. Đến đêm quả nhiên không thấy gì nữa. Thằng bé mừng thầm, nhưng mẹ lại ngủ mê mệt như chết vậy.

(1) Thợ làm đất.

Không bao lâu, người lái buôn về, đến bên giường thăm hỏi, vợ chửi mắng coi như cừu thù. Thằng bé kể chuyện lại, ông bố kinh sợ, mời thầy lang về chữa. Vợ hắt bát thuốc đi mắng chửi thậm tệ. Ngầm lấy thuốc bỏ vào nước thang(1) cho uống lẫn, mấy ngày sau dần dần yên, hai bố con đều mừng.

(1) Nguyên văn: “thang thủy” là nước sôi hoặc một thứ nước lá trợ lực cho thuốc.


Một đêm, tỉnh giấc dậy, người đàn bà lại biến mất. Hai bố con lại tìm thấy ở buồng khác. Từ đó lại điên, không muốn ngủ cùng buồng với chồng nữa. Gần tối là chạy sang buồng khác. Giữ lại, càng mắng chửi thậm tệ. Chồng không làm cách nào được, phải đóng tất cả các cửa buồng khác lại. Người đàn bà chạy đến thì cửa tự dưng mở ra. Chồng rất lo sợ, cầu cúng đủ cách cũng không hiệu nghiệm tý nào.
Một hôm gần tối, đứa bé lẻn đến vườn nhà họ Hà, nấp trong bụi, định rình xem hồ ở đâu. Trăng vừa lên, bỗng nghe có tiếng người nói, lén vạch cỏ dòm, thấy hai người đến uống rượu, một người đầy tớ râu dài bê hồ rượu, áo màu lá cọ. Tiếng nói rầm rì nhỏ quá không nghe được rõ. Một lúc nghe thấy một người nói: “Ngày mai hãy mang lại đây một nậm rượu trắng”. Lại một lúc nữa hai người đều bỏ đi, duy có lão râu dài ở lại, cởi áo nằm trên tảng đá trong vườn. Nhìn kỹ tay chân đều như người, chỉ có cái đuôi thò ra đằng sau. Thằng bé muốn về nhưng lại sợ hồ biết, đành nấp suốt đêm. Trời chưa sáng, lại nghe thấy hai người lục tục trở lại, tiếng nói lí nhí, đi vào trong bụi trúc. Thằng bé mới trở về. Bố hỏi đi đâu, đáp:
- Ngủ ở nhà bác.
Bỗng một hôm, theo bố vào chợ, thấy hàng mũ có treo cái đuôi chồn, liền xin bố mua cho. Bố không nghe. Nó cứ kéo áo bố, nằn nì đòi mua. Bố không nỡ phật ý, bèn mua cho. Bố buôn bán trong cửa hàng, con đùa nghịch ở bên cạnh. Thừa lúc bố ngoảnh đi chỗ khác, thằng bé lấy cắp tiền, đi mua rượu trắng, gửi lại ở quán. Có người cậu ở trong thành, vốn làm nghề săn bắn. Nó chạy đến nhà cậu, cậu đi vắng. Mợ hỏi bệnh mẹ, nó đáp:
- Mấy hôm nay đã khá lớn. Nhưng chuột cắn quần áo, mẹ cháu giận, khóc mãi không nguôi, nên sai cháu xin tí thuốc đánh bả thú(1).

(1) Nguyên văn “lạp dược”, là thuốc độc dùng để săn thú.


Mợ mở hòm lấy độ một đồng cân, gói lại đưa cho thằng bé. Nó cho là ít. Nhân lúc mợ đi làm mì nước cho cháu ăn, nó nhìn trộm nhà không có người, liền mở gói thuốc, trộm lấy một vốc, giấu vào trong bọc đoạn ra bảo mợ đừng nhóm bếp nữa:
- Bố cháu đợi cháu ở chợ, cháu chả kịp ăn đâu.
Nói xong đi ngay. Nó lén bỏ thuốc độc vào trong rượu, rồi đi chơi rong trong chợ, gần tối mới về. Bố hỏi đi đâu, nói thác là ở nhà cậu.
Từ đó thằng bé ngày ngày đi chợ chơi. Một hôm thấy người râu dài cũng lẫn vào trong đám đông. Nó nhìn kỹ, quả đúng, liền ngầm theo sát nút. Dần dà nói chuyện với lão, hỏi thăm quê quán của lão. Lão đáp:
- Ở thôn Bắc.
Lão cũng hỏi lại thằng bé, nó vờ đáp rằng:
- Ở trong hang núi.
Lão râu dài thấy nói ở trong hang núi, lấy làm lạ. Thằng bé cười nói:
- Nhà tôi đời đời ở hang núi, ông cũng thế chứ không ư?
Người đó càng kinh ngạc, hỏi họ nó, thằng bé đáp:
- Tôi là con họ Hồ, hình như đã từng gặp ông ở đâu, theo sau hai chàng trẻ tuổi, ông quên rồi ư?
Người đó nhìn kỹ thằng bé nửa tin nửa ngờ. Thằng bé khẽ vạch đũng quần, hơi thò cái đuôi giả ra, nói:
- Bọn mình trà trộn giữa giống người, chỉ cái của này là vẫn còn, thật cũng đáng bực.
Người đó hỏi:
- Đi chợ định làm gì?
Thằng bé nói:
- Bố sai tôi đi mua rượu.
Lão bảo lão cũng đi mua rượu. Thằng bé hỏi:
- Mua chưa?
Đáp:
- Bọn tôi phần lớn đều nghèo, nên thường đánh cắp nhiều hơn mua.
Thằng bé nói:
- Việc ấy kể cũng khổ, luôn luôn phải lo sợ.
Người đó nói:
- Chủ sai làm, không thể không làm được.
Thằng bé nhân đấy lại hỏi:
- Chủ là ai?
Đáp:
- Thì là hai anh em người trẻ tuổi hôm nào chú nhìn thấy đó. Một người thì gian díu với vợ chàng họ Vương ở ngoài cửa Bắc, còn một người thường ngủ nhà ông nọ ở thôn Đông. Chẳng may gặp thằng bé con nhà ông ta giữ quá, bị chém đứt đuôi, mười ngày mới khỏi, bây giờ lại mò đến rồi.
Nói xong toan đi, bảo rằng:
- Đừng làm lỡ việc của lão nhé.
Thằng bé nói:
- Lấy trộm khó lắm, chi bằng mua dễ hơn. Tôi đã mua trước gửi ở trong quán, xin tặng ông đấy. Túi tôi còn thừa tiền, không lo gì chuyện mua cả.
Lão thẹn vì chẳng có gì trả ơn. Thằng bé nói:
- Chúng ta vốn cùng loài, làm gì một tí đó, lúc nào rỗi còn phải chén với ông một bữa say khướt.
Liền cùng đi, lấy rượu đưa cho rồi về.
Đến đêm, mẹ quả ngủ yên, không chạy đi đâu nữa.
Bụng biết là có chuyện lạ, liền bảo bố cùng đi xem; thì thấy hai chú hồ chết ở trên ngôi đình. Một con hồ nữa chết trong đám cỏ, máu còn dòng dòng nơi miệng. Bình rượu cũng ở đó, cầm lên lắc, vẫn chưa hết. Ông bố lấy làm lạ, hỏi:
- Sao không bảo trước?
Thằng bé đáp:
- Giống này cực thính, hơi lộ là nó biết ngay.
Bố mừng nói:
- Con ta có cái mưu đánh hồ của Trần Bình(1) đây!

(1) Trần Bình là người đầu đời Hán, sáu lần bày kế giúp Lưu Bang (Hán Cao Tổ), thu lấy thiên hạ. Ở đây ý nói em bé có mưu kế giỏi như Trần Bình vậy.

Hai bố con bèn mang xác hồ về. Thấy một con cụt đuôi, vết dao còn rõ.
Từ đó mới yên, mà người đàn bà gầy ốm quá, dần dần tỉnh ra, nhưng ho càng nặng, khạc ra hàng đấu đờm, chẳng bao lâu rồi chết. Vợ chồng họ Vương ngoài cửa Bắc trước vẫn bị hồ trêu ghẹo, nay đến hỏi thì hồ đã dứt mà bệnh cũng khỏi, ông bố vì vậy biết con là đứa trẻ lạ, liền dạy cưỡi ngựa bắn cung, về sau làm đến tổng nhung(1).

(1) Chức quan võ về đời Thanh.

Đỗ Ngọc Toại dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,248
Posts: 13638
Joined: 22 Mar 2009
 
 

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 22 Aug 2022

Cô Tư Họ Hồ (Hồ Tứ Thư)


Thư sinh họ Thượng, người đất Thái Sơn(1), ở một mình nơi thư trai thanh tịnh. Gặp đêm thu, sông Ngân vằng vặc, trăng sáng lưng trời, chàng bồi hồi dưới bóng hoa, thả hồn tưởng nghĩ xa xôi. Bỗng một cô gái trèo qua tường mà vào, cười nói:

(1) Tên quận, thuộc tỉnh Sơn Đông.

- Cậu tú nghĩ gì lung thế?
Chàng đến gần nhìn thì mặt đẹp như tiên, mừng đến thảng thốt; bèn dìu nàng vào, cùng nhau ân ái thỏa sức. Nàng tự xưng họ Hồ, tên là cô Ba. Hỏi nhà cửa ở đâu, chỉ cười không nói. Chàng cũng thôi không căn vặn nữa, chỉ hẹn gắn bó lâu dài mà thôi. Từ đó không đêm nào nằm suông.
Một đêm ngồi kề đùi dưới ánh đèn thấp thoáng sau màn, chàng yêu quá, mắt nhìn nàng không chớp. Nàng cười nói:
- Sao nhìn thiếp đăm đăm thế?
Chàng đáp:
- Nàng như hoa hồng dược, hoa bích đào, nhìn suốt đêm cũng không chán.
Cô Ba nói:
- Thiếp thô lậu thế này mà còn được mắt xanh tưởng đến, nếu gặp em Tư nhà thiếp thì không biết chàng còn điên đảo đến đâu!
Chàng nghe vậy càng thêm động lòng, chỉ hận chưa được một lần thấy mặt, bèn quỳ gối van nài. Đêm sau quả nhiên cô gái dắt cô Tư cùng đến. Tuổi mới cập kê, như hoa sen đượm sương, hoa hạnh khói tỏa, nét cười tươi rói, xinh đẹp tuyệt trần. Chàng mừng cuống cuồng, vội dẫn vào ngồi.
Trong khi cô Ba cùng chàng chuyện trò cười nói thì cô Tư chỉ ngồi cúi đầu, tay mân mê giải lưng thêu. Lát sau cô Ba đứng dậy cáo biệt, em gái cũng định ra theo, nhưng chàng kéo lại, không chịu buông, mắt nhìn sang cô Ba cầu cứu:
- Ái Khanh, phiền nàng nói giúp một câu.
Cô Ba bèn cười, nói:
- Anh chàng cuồng si này yêu quýnh lên thật rồi. Em hãy nán lại một lát.
Thấy cô Tư không nói gì, cô chị mới giã từ ra đi. Hai người bèn giao hoan thật thỏa thích. Xong đâu đấy mới gối đầu lên cánh tay, thổ lộ hết chuyện bình sinh, không còn giấu giếm điều gì. Cô Tư tự nói mình là hồ, nhưng chàng Thượng vì đang mê đắm nhan sắc nên cũng không lấy thế làm quái lạ. Cô Tư nhân thể lại nói:
- Chị Ba em ác độc như lang sói, nghiệp của chị là phải giết được ba người. Ai đã bị chị mê hoặc thì không tránh khỏi chết. Em may mắn được chàng đoái thương, không nỡ nhìn chàng bị hại, hãy sớm dứt tình với chị đi.
Chàng sợ, xin bày cho cách đối phó. Cô Tư nói:
- Em tuy là hồ, nhưng lại học được chính pháp của tiên. Để em viết một lá bùa dán lên cửa phòng ngủ của chàng thì có thể dứt bỏ được.
Nói rồi viết liền. Trời sáng, cô Ba trở lại thấy bùa liền lui ra nói:
- Con tiện tỳ, nỡ phụ bụng ta! Hết lòng với tân lang mà không nhớ gì đến bà mối nữa. Song hai đứa chúng bay cũng có chút duyên trước với nhau, ta chẳng thù hận gì. Có điều hà tất phải làm thế!
Nói rồi đi ngay. Mấy hôm sau cô Tư có việc phải đi nơi khác, hẹn cách một đêm sẽ đến. Hôm đó, chàng ngẫu nhiên ra cửa, nhìn về phía xa, noi đám rừng sồi dưới chân núi. Chợt thấy một thiếu phụ từ trong lùm cỏ rậm đi ra, nhác trông cũng ra chiều phong vận. Nàng đến gần, bảo chàng:
- Cậu tú việc gì phải bo bo quyến luyến chị em nhà họ Hồ? Chúng có đồng nào để tặng chàng đâu!
Nói rồi, đưa ngay cho Thượng một quan, bảo:
- Hãy cầm về trước mua rượu ngon, thiếp sẽ đem một ít đồ nhắm đến để vui cùng chàng.
Thượng cầm tiền về, làm như lời dặn. Lát sau thiếu phụ đến, đặt lên bàn một con gà quay, một vai lợn muối, rồi rút dao thái thành từng miếng. Rượu rót ra cùng nhắm, chuyện trò đùa giỡn vui vẻ lạ thường. Rồi tắt đèn lên giường, yêu đương quấn quýt, buông thả đến cùng cực. Trời sáng mới dậy. Đang ngồi ở đầu giường xỏ chân vào giày, bỗng nghe có tiếng người. Vừa mới lắng tai, bước chân đã vào tới bên màn ngủ, thì ra chính là chị em họ Hồ. Thiếu phụ vừa nhìn thấy liền vội vàng lẩn trốn, bỏ lại đôi giày cạnh giường. Hai chị em đuổi theo mắng rằng:
- Con chồn ô uế kia, sao dám cùng ngủ với người?
Đuổi một lúc lâu mới quay lại. Cô Tư giận dỗi nói:
- Chàng không thể khá được! Đã chung chạ với con chồn ô uế ấy thì không thể thân cận được nữa!
Nàng đùng đùng bỏ đi. Chàng hoảng sợ, phải tự mình tạ lỗi, lời lẽ khẩn khoản rất thảm. Cô Ba đứng bên cũng hòa giải giúp, cơn giận của cô Tư mới tạm nguôi. Từ đó lại yêu mến nhau như buổi đầu.
Một hôm, có người ở đất Thiểm cưỡi lừa đi qua cửa, nói:
- Ta đi tìm loài yêu quái, chẳng phải một sớm một chiều, thế mà mãi hôm nay mới gặp.
Người cha nghe nói lấy làm lạ, hỏi rõ nguồn cơn, thì nói:
- Tiểu sinh ngày ngày lênh đênh nơi khói sóng, du ngoạn bốn phương; một năm hơn mười tháng thì vắng nhà đến tám, chín. Bọn yêu quái nhân đó đã giết hại em trai tôi. Khi trở về biết tin, lòng khôn xiết đau thương, uất hận, thề phải tìm diệt chúng kỳ hết. Bôn ba đã mấy nghìn dặm mà tuyệt chưa thấy dấu vết gì. Hôm nay biết chúng đang ở trong nhà cụ. Nếu không diệt đi hẳn sẽ lại bị hại như em tôi.
Thường ngày chàng ngấm ngầm đi lại với cô gái, cha mẹ đã phong thanh biết chuyện. Nghe khách nói thế, ông bà rất sợ, mời vào nhà, xin làm phép trừ yểm. Khách lấy ra hai cái bình, đặt xuống đất, niệm chú một lúc lâu. Bỗng bốn luồng khói đen bay tới, chia ra mà chui lọt vào trong hai bình. Khách mừng nói:
- Cả nhà nó đều vào đây hết rồi!
Sau đó lấy bong bóng lợn bịt miệng bình, buộc lại thật chặt. Cha chàng cũng mừng, cố giữ khách lại dùng cơm. Riêng chàng thấy buồn bã trong lòng, lại gần bình nhìn trộm. Bỗng nghe cô Tư ở trong bình nói vọng ra:
- Nỡ ngồi nhìn mà không cứu, sao chàng phụ lòng nhau đến thế?
Chàng càng cảm động, vội mở miệng bình, nhưng dây buộc không thể cởi ra được. Cô Tư lại nói:
- Đừng làm thế. Chỉ cần hất đổ lá cờ trên đàn cúng, lấy kim châm thủng một lỗ trên lớp bong bóng là em sẽ ra được ngay.
Chàng làm như lời cô gái, quả nhiên trông thấy một sợi khói trắng chui qua lỗ châm kim, bay vụt lên trời đi mất.
Khách ra, thấy cờ đổ xuống đất, cả sợ nói:
- Trốn mất rồi! Việc này chắc hẳn là do công tử thôi.
Bèn lắc bình, ghé tai nghe rồi nói:
- May chỉ một con trốn thoát. Con này dẫu có giao hợp với người cũng chẳng chết ai; còn có thể tha được.
Nói rồi mang bình từ biệt mà đi.
Về sau, có lần chàng đang trông coi người gặt lúa ngoài đồng, chợt xa xa thấy cô Tư ngồi dưới gốc cây. Chàng đến cầm tay ân cần thăm hỏi. Nàng đáp:
- Xa nhau chốc đã mười năm. Nay tu luyện đã thành, chỉ vì lòng nhớ chàng chưa dứt nên trở lại thăm nhau một lần nữa.
Chàng muốn đưa nàng cùng về, nàng nói:
- Thiếp bây giờ không còn như ngày xưa; không thể vướng vào ái tình nơi cõi trần được nữa, sau này sẽ còn gặp lại nhau.
Nói rồi, chẳng thấy đâu nữa.
Lại hơn hai chục năm qua, vừa khi chàng đang ở nhà một mình thì cô Tư từ ngoài bước vào. Chàng mừng rỡ, cùng trò chuyện. Cô gái nói:
- Thiếp nay tên đã ghi trong sổ tiên, lẽ ra không nên trở lại cõi trần. Nhưng cảm lòng chàng, thiếp đến báo cho chàng biết: hạn kỳ tuổi thọ đã hết, hãy sớm thu sếp việc nhà. Cũng đừng buồn phiền, thiếp sẽ độ trì cho làm quỷ tiên, cũng không đến nỗi khổ đâu.
Nói rồi từ biệt mà đi. Đến ngày, chàng quả nhiên qua đời.
Thư sinh họ Thượng là người thân thích của Lý Văn Ngọc. Bạn ta, chính chàng đã từng được gặp.

Trần Thị Bảng Thanh dịch




Image
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,248
Posts: 13638
Joined: 22 Mar 2009
 
 

Re: Liêu Trai Chí Dị

Postby bevanng » 22 Aug 2022

Tiên Ông Họ Thành (Thành tiên)


Chàng họ Chu, người Văn Đăng(1), cùng với chàng họ Thành, thuở nhỏ cùng theo đòi nghiên bút, do đó mà kết thành bạn thiết(2). Nhưng Thành nghèo, nên quanh năm phải nhờ vả vào Chu. So tuổi tác thì Chu lớn hơn, nên gọi vợ Chu bằng chị dâu. Các dịp giỗ tết vẫn đi lại với nhau như một nhà. Vợ Chu sau khi sinh được đứa con trai thì bạo bệnh chết. Chu cưới vợ kế họ Vương; Thành lấy cớ cô còn ít tuổi nên chưa từng gặp mặt.

(1) Một huyện thuộc tỉnh Sơn Đông.
(2) Nguyên văn “chữ cứu giao”, là một điển cố chỉ sự kết thân không kể sang hèn, Chúng tôi dịch thoát.


Một hôm, em trai cô Vương đến nhà Chu thăm chị, yến tiệc ở ngay phòng ngủ. Thành cũng vừa đến chơi. Người nhà vào báo tin, Chu đang ngồi, cho mời vào. Thành không vào, từ tạ ra về. Chu phải dời bàn tiệc ra nhà ngoài, rồi chạy theo giữ, Thành mới quay lại. Vừa ngồi vào bàn thì có người vào báo, một người đầy tớ trai giữ trại cho nhà Chu bị quan huyện đánh rất đau. Nguyên trước đây, kẻ giữ trâu của nhà quan lại bộ họ Hoàng để trâu xéo lên ruộng của Chu, vì thế mà đâm ra cãi nhau. Tên giữ trâu của họ Hoàng chạy về trình với chủ. Chủ cho bắt đầy tớ của Chu giải lên quan, rồi bị quan phạt đòn.
Chu hỏi rõ sự tình đầu đuôi, nổi giận nói:
- Tên nặc nô chăn lợn(1) họ Hoàng kia sao dám làm vậy! Tổ tiên nó còn phải hầu hạ tổ phụ ta, thế mà nay mới gặp thời đắc chí đã không coi ai ra gì nữa.

(1) Nguyên văn “mục trư nô”, thường gọi thô tục để chỉ dân cờ bạc.


Giận trào lên cổ, chàng phẫn chí vùng dậy, muốn chạy ngay đi tìm Hoàng. Thành kéo tay ngăn lại, nói:
- Giữa thời buổi bạo ngược này, làm gì phân rõ đen trắng. Huống chi quan lại ngày nay quá nửa cũng là lũ trộm cướp không cầm giáo đeo cung đấy thôi!
Chu không nghe. Thành năn nỉ hai ba lần, đến chảy nước mắt, chàng mới chịu; nhưng uất ức vẫn không nguôi, trằn trọc suốt đêm. Sáng ra bảo gia nhân rằng:
- Họ Hoàng khinh ta quá, ta thù hận nó, nhưng hẵng để đấy đã. Còn quan huyện là quan của triều đình, chẳng phải quan của bọn quyền thế, nếu có chuyện tranh chấp thì cũng cần hỏi cả hai bên, chứ sao lại như con chó “xuỵt” đâu chạy đấy được? Ta cũng phải làm đơn kiện đầy tớ nhà kia xem nó phân xử thế nào.
Đám gia nhân hết thảy đều vun vào, chàng bèn quyết kế, viết tờ cáo trạng gửi lên quan huyện. Quan huyện xé vứt đi. Chu uất, nói những lời xúc phạm đến quan. Quan vừa thẹn vừa căm, lấy cớ bắt chàng tống ngục.
Sáng hôm sau, Thành sang thăm Chu mới biết đã vào thành thưa kiện. Vội vàng đuổi theo để ngăn lại, thì đã bị nhốt, vào ngục rồi, chàng giậm chân than thở, không biết làm thế nào. Bấy giờ vừa tóm được ba tên giặc biển; quan huyện và Hoàng đút tiền, dặn chúng vu cho Chu là đồng đảng, rồi vin vào lời khai đó mà lột bỏ mũ áo nhà nho, dùng roi tra khảo Chu một cách thảm khốc. Thành vào ngục, nhìn nhau mà cay đắng. Bàn tính kêu lên tận cửa khuyết, Chu bảo:
- Nay thân đã bị xiềng trong cũi, giống như chim trong lồng; dẫu còn một chú em yếu hèn thì cũng chỉ làm được việc đưa cơm tù mà thôi.
Thành sốt sắng tự nhận lấy, nói rằng:
- Đây là phận sự của tôi. Khó khăn không giúp nhau thì còn bạn bè làm gì!
Rồi chàng lên đường ngay. Em trai Chu định đưa tiền lộ phí thì đi đã lâu rồi.
Đến kinh, chưa biết cửa nào mà kêu thì nghe đồn xa giá sắp sửa đi săn. Thành dự tính nấp sẵn trong khu chợ gỗ. Chốc lát, xa giá đi qua, chàng ra sụp lạy, kêu van thảm thiết. Sớ bèn được chuẩn, giao cho các trạm chuyển về, để bộ, viện cứu xét và tâu lên. Bấy giờ đã trải qua hơn mười tháng, Chu đã bị khép bừa vào tội hình. Pháp viện tiếp được ngự phê, cả sợ, phải cho tra xét lại cả lời cung lẫn nghị án. Hoàng cũng sợ, mưu giết Chu. Nhân đó hối lộ cho cai ngục, để chúng tuyệt hẳn đường cơm nước. Em Chu mang thức ăn vào thăm, cũng bị cấm ngặt. Thành lại lên tận viện bày tỏ điều khuất khúc, Chu mới được gia ơn hỏi đến, thì đã đói lả, không dậy được nữa. Quan pháp viện tức giận, cho đánh trượng cai ngục đến chết. Hoàng đâm hoảng, phải dùng mấy nghìn lạng vàng đút lót, chạy vạy thoát thân, mới được bỏ qua đi một cách mập mờ. Còn quan huyện thì vì bẻ cong pháp luật, phải khép tội đày.
Chu được thả về, càng phục Thành can đảm. Riêng Thành, từ sau khi trải qua kiện tụng, tình đời nguội lạnh như tro. Muốn rủ Chu cùng mình đi ẩn, nhưng Chu còn đắm đuối vợ trẻ, nên nghe nói thì cười chàng viển vông. Thành tuy không đáp song ý đã quyết. Sau khi chia tay, mấy ngày không thấy chàng trở lại, Chu cho người sang nhà Thành thám thính, thì người nhà cũng ngỡ chàng đang ở nhà Chu; hai nơi đều không thấy nên mới đâm ngờ. Chu biết có chuyện lạ, cho người đi tìm; chùa quán, hang hốc không đâu không dò hỏi. Thỉnh thoảng lại đem vàng lụa chu cấp cho con của bạn.
Được khoảng tám chín năm thì Thành bỗng tự tìm về. Khăn vàng áo lông, nghiễm nhiên đã có dáng dấp đạo sĩ. Chu mừng, nắm tay bạn hỏi:
- Anh đi đâu để tôi tìm khắp?
Cười đáp:
- Mây ngàn hạc nội, nào có nhất định ở đâu. Nhưng từ bấy đến nay may vẫn mạnh khỏe.
Chu sai bày tiệc rượu, kể sơ với bạn nỗi niềm xa cách, có ý muốn Thành cởi bỏ áo đạo đổi lấy áo thường. Thành chỉ cười không nói. Chu bảo:
- Ngu thật! Sao có thể bỏ vợ con như bỏ cái chổi cùn được?
Thành cười mà rằng:
- Không phải thế! Người định bỏ ta chứ ta nào có bỏ được người?
Hỏi đến chỗ ở thì trả lời là trên cung Thượng Thanh núi Lao Sơn.
Tiệc xong trở về giường nằm, Chu mơ thấy Thành trần truồng nằm đè lên ngực, ngạt muốn tức thở. Gặng hỏi làm gì vậy, tuyệt nhiên không đáp.
Giật mình tỉnh dậy, gọi Thành không thấy thưa, nhổm lên nhìn thì đã bỏ đi đâu mất tăm. Định thần lại mới biết mình đang ở trên giường của Thành. Sợ hãi kêu lên:
- Tối qua không say, sao mà đảo điên đến vậy?
Bèn gọi người nhà. Người nhà thắp đèn lên, thì người ngồi đấy là Thành. Chu vốn nhiều râu, lấy tay sờ, thì cằm lơ thơ chẳng có mấy sợi. Vội tìm gương soi, lạ lẫm thốt lên:
- Thành sờ sờ ở đây, thế thì mình đi đâu rồi?
Nói xong vụt hiểu ra, Thành dùng ảo thuật để gọi mình đi ẩn. Muốn về thăm vợ(1) nhưng người em thấy dung mạo khác anh, ngăn lại không nghe. Chu cũng không có cách gì biện bạch, liền sai sắp ngựa và đầy tớ để đi tìm Thành.

(1) Vì phòng “trai”, tức là nhà học, thường cất cách biệt với nhà ở cho nên ở đây nói là về thăm vợ.


Mấy ngày sau, đến núi Lao Sơn. Ngựa chạy nhanh, đầy tớ theo không kịp. Chu tạm nghỉ lại dưới gốc cây, thấy những người khách mặc áo lông chim(2) qua lại rất đông. Một đạo nhân trong số đó đưa mắt nhìn Chu. Chu nhân dịp hỏi thăm về Thành thì đạo sĩ cười, đáp:

(2) Chỉ người theo Đạo giáo. Điển cố này bắt nguồn từ biệt hiệu Kim Môn Vũ Khách của đạo sĩ Đàm Từ Tiêu thời Nam Đường.

- Cũng có nghe anh. Hình như ở trên cung Thượng Thanh thì phải.
Nói xong, đi ngay. Chu đưa mắt nhìn theo thì thấy ông ta đi ước chừng ngoài một tầm tên bắn, dừng lại chuyện trò với một người nào đấy nhưng cũng chỉ dăm câu rồi đi luôn. Người vừa chuyện trò với đạo sĩ dần dần đi đến, thì ra là người học trò cùng làng. Thấy Chu, anh ta kinh ngạc kêu lên:
- Bao năm không gặp, nghe người ta nói anh lên non học đạo, thế mà nay còn dạo chơi cõi trần được ư?
Chu kể lại chuyện đổi lốt kỳ dị của mình; chàng kia hốt hoảng nói:
- Thế thì tôi vừa gặp anh ta kia mà cứ ngỡ là anh. Mới đi chưa được bao lâu, chắc cũng không xa đây lắm.
Chu kinh dị nói:
- Quái thật! Sao lại mặt mũi của mình mà mình vừa nhìn tận mặt cũng không nhận ra được?
Đầy tớ cũng vừa tìm tới, vội gấp gáp ruổi theo, nhưng rốt cuộc dấu vết vẫn mất hút. Nhìn lên phía trước chỉ thấy mịt mù xa tắp, tiến thoái không còn biết đường nào mà tính. Tự nghĩ còn nhà đâu nữa mà về. Bèn quyết ý đuổi theo đến cùng. Mà đường thì quá cheo leo hiểm trở, không thể đi ngựa được nữa, đành giao ngựa cho đầy tớ dắt về, một mình thất thểu đi tiếp.
Bỗng đâu xa xa nhác thấy một cậu tiểu đồng ngồi lẻ loi, vội đến gần hỏi đường, và nói rõ duyên cớ. Tiểu đồng tự nhận là đệ tử của Thành, thân mang giúp áo quần, lương thực, dẫn chàng cùng đi. Nằm sương gối đất, vượt muôn dặm hành trình, ba ngày mới tới, thì hóa ra Thượng Thanh lại chẳng phải như lời thế gian vẫn đồn. Bấy giờ đã là giữa tháng Mười thế mà hoa rừng nở đầy lối đi, chẳng có vẻ gì là đầu mùa đông.
Tiểu đồng vào báo tin khách đến, Thành vội vàng chạy ra, chàng mới nhận ra được hình dáng của mình. Cầm tay dắt vào, bày tiệc rượu, chuyện trò yến ẩm. Chu thấy nhiều giống chim màu sắc kì dị, dạn dĩ không sợ người, thường đến đậu ngay trên chỗ ngồi mà hót, tiếng nghe như đàn sáo, trong lòng rất lấy làm lạ. Nhưng lòng trần còn vấn vít, không có ý muốn lưu lại. Dưới đất trải hai tấm bồ đoàn, Thành kéo Chu cùng ngồi. Quá canh hai, muôn vàn lo nghĩ đều lắng xuống, vừa chợp mắt một cái, bỗng cảm thấy giữa mình và Thành, thân hình lại có sự trao đổi. Ngờ vực, đưa tay sờ cằm, thì lại rậm râu như cũ.
Sáng ra, hăng hái muốn về ngay. Thành cố giữ lại, sau ba ngày mới bảo:
- Xin cứ ngủ một lúc, sáng mai sẽ đưa anh về.
Mới thiu thiu thì đã nghe tiếng Thành gọi: “Hành trang đã sẵn rồi!” Bèn trở dậy theo đi. Con đường lần này khác xa lối cũ. Chưa được bao lâu đã cảm thấy làng quê hiện ra trong tầm mắt. Thành ngồi lại bên đường đợi, bảo Chu cứ về. Chu cố nài không được, đành lầm lũi đi về. Đến trước cổng nhà, gõ không thấy thưa, đang định trèo tường vào thì đã cảm thấy thân nhẹ tựa chiếc lá, nhảy một phóc qua tường ngay. Vượt qua mấy lớp tường thấp mới tới phòng ngủ. Bên trong đèn đuốc sáng trưng, vợ mình vẫn chưa ngủ, đang trò chuyện thì thầm với người nào đấy. Chàng dùng lưỡi nhấm giấy dán cửa sổ, khẽ nhòm vào, thì cô vợ đang cùng một tên đầy tớ vai u thịt bắp(1) chuốc rượu cho nhau, bộ dạng rất lả lơi. Lửa giận bốc lên, đã toan xông vào bắt, lại sợ thế cô không thắng nổi, bèn lẳng lặng nhảy ra khỏi cửa, chạy đến báo với Thành, nhờ giúp một tay. Thành khảng khái nhận lời, cùng đi thẳng tới buồng ngủ của vợ. Chu nhấc một hòn đá, đập cửa. Bên trong hoảng sợ rối rít. Cửa càng đập gấp, trong cài càng chặt. Thành rút gươm đưa một nhát, cửa bật tung ra. Chu ập vào, tên đầy tớ vùng chạy ra cửa. Thành đứng ngoài cửa dùng kiếm chém, đứt lìa cánh tay đến tận vai. Chu bắt vợ ra tra khảo, mới biết nàng đã tư thông với đứa ở từ hồi chàng còn trong ngục. Chu mượn gươm, chặt đầu vợ, treo ruột lên cành cây trước sân, rồi theo Thành quay ra, tìm đường trở về núi. Thốt nhiên giật mình tỉnh dậy, thì thân thế vẫn đang nằm trên giường. Chàng kinh ngạc nói:

(1) Nguyên văn “ty bộc”, là hạng đầy tớ dùng vào việc lao động nặng nhọc như chặt củi, nuôi ngựa.

- Mộng mỵ quàng xiên, làm mình đâm hoảng.
Thành cười đáp:
- Mơ thì anh bảo là thực, thực anh lại bảo là mơ.
Chu ngạc nhiên hỏi lại, Thành đưa gươm cho xem thì thấy vết máu vẫn còn nguyên. Chu sợ đến thất thần, nhưng lại trộm ngờ Thành bày trò ảo thuật dối gạt. Thành biết ý, bèn sắp sửa hành trang đưa chàng về.
Thấm thoát đã đến đầu làng. Thành bảo:
- Đêm đó, tôi chống kiếm đợi anh, chẳng phải ở đây là gì! Tôi đã chán nhìn trò đời vẩn đục, xin lại được đợi anh ở đây. Nếu quá giờ thân(1) anh không ra, sẽ đi một mình.

(1) Vào khoảng xế chiều.

Chu đến nhà, nhìn thấy cửa ngõ tiêu điều, dường không có người ở, bèn vòng sang nhà người em. Vừa gặp anh, em đã ràn rụa nước mắt, kể lể:
- Sau khi anh đi, đang đêm cướp vào giết chị, khoét ruột, thảm thương không thể tả! Đến nay quan lùng bắt chưa được.
Chu như người trong mộng chợt tỉnh, bèn đem tình thực mà nói, lại dặn đừng truy cứu nữa làm gì. Người em đứng ngây ra một lúc lâu. Chu hỏi thăm con mình. Bèn gọi * già bế tới. Chu bảo em:
- Cái vật trong bọc khăn tã này có quan hệ đến việc nối dõi tông đường, em hãy cố mà chăm sóc. Anh nay sắp từ giã việc đời rồi.
Thế rồi đứng dậy, đi ngay. Người em nước mắt lã chã, chạy theo níu lại, Chu chỉ cười mà đi thẳng. Ra đến ngoài làng, gặp lại Thành, cùng nhau đi tiếp. Khi đã xa, quay đầu lại dặn:
- Sự đời, nhẫn nhục là hay nhất.
Người em còn muốn nói thì Thành đã khoát tay áo một cái, lập tức không còn nhìn thấy đâu nữa. Đành đứng sững giờ lâu, gào khóc rồi về.
Em Chu là người vụng về chất phác, không biết dạy bảo người nhà chăm nom vườn ruộng. Sống được vài năm, nhà càng nghèo. Con trai Chu dần lớn lên, không thể đón được thầy, phải tự mình dạy cháu học. Một hôm, đến thư trai vào sáng sớm, thấy một phong thư để trên án, niêm rất kỹ, ngoài đề: “Em trai mở”. Nhìn xem thì đúng là nét chữ của anh. Mở ra, trống rỗng chẳng có gì, chỉ thấy một cái móng dài chừng hai đốt tay. Bụng lấy làm kì quái. Đặt cái móng tay lên nghiên mực rồi bước ra, hỏi người nhà thư ở đâu gửi tới, song không ai biết cả. Quay trở lại nhìn thì thấy nghiên đá sáng chói, đã hóa thành vàng. Vô cùng kinh ngạc. Đem đặt thử lên đồng, sắt, đều như thế cả. Từ đấy giàu to. Đem ngàn vàng giúp cho con Thành. Vì thế, thiên hạ đồn rằng hai nhà này có thuật điểm kim.

Nguyễn Huệ Chi dịch
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,248
Posts: 13638
Joined: 22 Mar 2009
 
 

PreviousNext

Return to Truyện Ðọc



Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 7 guests