Những Bài Viết Ngắn Chọn Lọc (Sưu Tập)

Truyện tình mùi mẫn, truyện ma kinh rợn hay các thể loại khác. Xin mời vào.

Moderators: Mười Đậu, SongNam, A Mít

Re: Những Bài Viết Ngắn Chọn Lọc (Sưu Tập)

Postby bevanng » 11 Jan 2018

Hãy nói với cô ấy rằng anh yêu cô ấy


Tôi sẽ gọi ông ấy là bác sĩ Case, ông là một bác sĩ ở vùng nông thôn, là bạn thân của tôi hai mươi năm về trước. Dạo đó, tôi thường ghé thăm ông tại một thị trấn nhỏ bang Colorado mỗi khi tôi có dịp về miền Tây, và thỉnh thoảng ông kể cho tôi nghe chuyện về những người mà cả hai chúng tôi cùng biết. Ông đã kể cho tôi nghe về John và Louise.
John là chủ một trang trại. Anh cao lớn, trầm tính, không biết chữ và khỏe như voi. Anh khởi nghiệp với năm mươi con cừu. Là người tham vọng và chi tiêu tiết kiệm, mười năm sau anh đã sở hữu hai ngàn con cừu cái và một đồng cỏ mênh mông. Sau đó, anh mua một nông trại trồng cỏ linh lăng ở rìa thị trấn để vỗ béo cho đàn cừu non của mình. Ở tuổi bốn mươi lăm, anh là một người đàn ông giàu có.
Rồi anh lấy vợ. Louise là một cô gái cùng sống trong vùng. Cô tốt nghiệp trung học và làm phục vụ cho một quán ăn trong thị trấn. John gặp cô ở đó vào mùa hè năm cô hai mươi tuổi. Kể từ đó anh bắt đầu lái xe hàng ngày từ trại cỏ đến quán chỉ để uống một tách cà phê vào lúc mười giờ.
Louise trò chuyện với anh về thời tiết, mùa màng và những câu chuyện phiếm vô hại xảy ra trong vùng. Còn John chỉ nhìn cô, mỉm cười và gật đầu.
Việc này diễn ra trong ba tháng. Rồi một buổi sáng kia - bác sĩ Case ghé qua quán để uống cà phê và nghe John nói với Louise: “Louise, anh muốn em lấy anh”. Louise cảm giác như mình nghẹn thở và suýt làm đổ cà phê. Bác sĩ bảo rằng họ nói chuyện cứ như thể chỉ có hai người trên cõi đời này. Louise trả lời: “John, có lẽ em sẽ lấy anh. Nhưng em cần một hai ngày để suy nghĩ về việc đó”. John gật đầu, anh uống tách cà phê rồi nói: “Anh phải đi làm rồi. Tạm biệt em”.
Hai tuần sau đó, họ cưới nhau. Sau tuần trăng mật ở Colorado Springs, họ ổn định cuộc sống tại nông trại trồng cỏ linh lăng, và Louise đã cho sơn lại căn nhà, dán tường và trang trí nội thất với đồ đạc mua từ Denver. Trong năm đầu chung sống, John thuê thợ đến xây một gian bếp mới và một hàng hiên có mái che.
Nhưng bác sĩ Case biết có điều gì đó không ổn. Đã hai lần John gọi ông đến khám cho Louise, và ông nhận thấy Louise không được vui. Cô ấy cũng không được khỏe, cô bảo rằng mình bị nhức đầu kinh khủng, nhưng bác sĩ Case không tìm ra được nguyên nhân để chữa trị. Lần thứ hai đến khám bệnh cho Louise, ông đã hỏi Louise rằng John đối xử với cô có tốt không. Louise cho biết John là người chồng tốt nhất mà bất kỳ phụ nữ nào cũng ao ước, chỉ có điều anh ấy hơi ít nói, mà phụ nữ lại thích được trò chuyện. Sau đó mọi việc có vẻ ổn. Vài tuần sau, khi bác sĩ gặp Louise trong thị trấn, cô nói với ông: “Tôi nghĩ chắc là do tôi đã tưởng tượng ra chứng nhức đầu cùng những cơn đau. Tôi quyết định phải khỏe và mạnh mẽ như John vậy!”.
Chưa đầy mười tám tháng sau, bác sĩ lại nghe tin về họ. Lúc ba giờ ba mươi phút một buổi sáng nọ, có tiếng đập cửa ầm ầm bên ngoài khiến bác sĩ giật mình tỉnh giấc. John đứng đó, chiếc xe hơi đỗ bên ngoài vẫn còn đang nổ máy. Anh nói: “Bác sĩ, Louise ốm nặng lắm. Ông hãy nhanh nhanh làm gì đó đi”. Louise đang nằm trong xe, cô gần như mê man bất tỉnh vì đau. Họ đã ở tại trại chăn nuôi cừu của John trong vài ngày, và cơn đau đột ngột tấn công cô vào chập tối hôm đó. Cô đã gắng gượng để quên nó đi, nhưng cơn đau dữ dội đến mức cô không thể chịu đựng nổi. Trên đoạn đường dài ba mươi dặm vào thị trấn, cô đã ngất.
Bác sĩ đưa Louise vào bệnh xá chỉ có bốn giường bệnh của mình và tiến hành phẫu thuật cho cô. Ruột thừa của cô bị vỡ, nhưng lúc sáng sớm thì cô hồi tỉnh nên bác sĩ Case nghĩ là ca mổ đã thành công. Ông nói với John rằng họ phải đợi thêm hai mươi bốn tiếng nữa mới biết được kết quả thế nào, nhưng có vẻ như cơn nguy kịch đã qua. John khóc như một đứa trẻ. Anh nói: “Cô ấy phải bình phục, bác sĩ à. Cô ấy phải bình phục!”.
Đến tối, tình trạng của Louise lại xấu đi. Đêm đó bác sĩ đã truyền huyết thanh cho cô hai lần, nhưng cô vẫn yếu dần đi. Cô thều thào với bác sĩ: “Tôi không còn đủ sức nữa đâu”.
Bác sĩ hỏi: “Cô nói thế là sao? Tôi cứ nghĩ cô sẽ khỏe và mạnh mẽ như John chứ”.
Louise mỉm cười yếu ớt: “John mạnh mẽ đến nỗi anh ấy không cần đến tôi. Nếu anh ấy cần, anh ấy đã nói thế, phải không bác sĩ?”.
Bác sĩ nói: “Louise, John thật sự cần cô, cho dù anh ấy có nói ra hay không”.
Cô lắc đầu và nhắm mắt lại.
Vào phòng làm việc, bác sĩ nói với John: “Cô ấy không muốn bình phục”.
John kêu lên: “Cô ấy phải bình phục. Xem nào, bác sĩ, sao không truyền máu cho cô ấy?”.
Bác sĩ giải thích là ông đã truyền huyết thanh cho cô rồi.
“Bác sĩ, ý tôi muốn nói là máu của tôi kia. Sức tôi khỏe đủ cho cả hai chúng tôi”.
Bác sĩ dẫn anh xuống phía hành lang. Ông hỏi: “John, anh yêu cô gái ấy chứ?”.
John đáp: “Không yêu thì tôi đã không cưới cô ấy”.
“Thế anh đã bao giờ nói với cô ấy như vậy chưa?”.
Mắt John như mờ đi. “Chẳng phải tôi đã cho cô ấy tất cả những gì tôi có sao? Một người đàn ông có thể làm gì hơn được đây?”.
“Trò chuyện với cô ấy”. Bác sĩ trả lời.
“Bác sĩ, tôi đâu có khiếu ăn nói. Quỹ tha ma bắt, cô ấy biết mà!”. Rồi anh nắm chặt vai ông: “Hay truyền máu của tôi cho cô ấy”.
Bác sĩ suy nghĩ một lát, rồi ông dẫn John vào trong phòng thí nghiệm nhỏ, lấy mẩu máu của anh và xét nghiệm. Sau cùng, ông nói: “Được rồi, John. Trong vòng mười phút nữa”.
Bác sĩ vào phòng Louise và nói với cô rằng John muốn truyền máu cho cô. Ông kiểm tra mạch của cô. Mạch đập rất yếu. Ông biết rằng cơ hội rất mỏng manh. Ông gọi cô y tá vào phòng và nói cho cô biết ông sắp làm những gì.
Một lát sau, ông dẫn John vào phòng Louise. Bàn phẫu thuật được đặt ngay cạnh giường bệnh của cô, và một tấm màn được căng ra giữa giường và bàn. Khi John nằm xuống bàn, cô y tá kéo tấm màn sang một bên. Anh đưa bàn tay to và thô ráp của mình ra nắm lấy tay Louise và nói với cô: “Bây giờ anh sẽ làm cho em khỏe lại, Louise à”.
Không nhìn anh, cô thì thào: “Vì sao?”.
John kêu lên: “Thế em cho là vì sao nào?”.
Cô trả lời: “Em không biết”.
“Em là vợ anh, đúng không nào?”
Không có tiếng trả lời. Cô y tá hạ rèm xuống, sát trùng cánh tay cho John và ghim kim tiêm vào. John co cơ bắp lên một cách tự hào. Anh nói với Louise: “Được rồi em à”. Một lát sau, anh lại hỏi bác sĩ: “Bác sĩ, cô ấy tiếp nhận nó như thế nào?”
Bên kia tấm màn, bác sĩ đã ghim một chiếc kim vào cổ tay Louise và nới lỏng cái kẹp trên ống dẫn. Ngón tay ông đặt trên cổ tay kia của cô để theo dõi mạch.
Ông bảo: “Ổn rồi, John”.
John hỏi: “Em thấy thế nào, Louise?”.
Cô thều thào: “Em ổn”.
John nói: “Truyền máu xong, em sẽ nói to như anh vậy”.
Mạch của cô có vẻ đập mạnh lên một chút.
Cô khẽ gọi: “John!”.
“Sao em?”
“John, em yêu anh”.
Cả hai im lặng trong chốc lát. Rồi John nói: “Louise! Em phải bình phục!”.
Cô khẽ hỏi lại: “Sao thế anh?”.
“Em phải bình phục vì anh. Anh cần có em”. John ngập ngừng, rồi giọng nói của anh nghẹn đi: “Anh yêu em”.
Mạch của cô đột nhiên đập mạnh.
Cô nói: “Vậy mà anh chẳng bao giờ nói với em cả”.
Anh trả lời: “Trước đây anh không nghĩ anh phải nói với em điều đó”.
Lúc này mạch của cô đã ổn định.
Cô nói: “John, anh nói lại cho em nghe đi”.
Anh ngập ngừng, rồi lặp lại: “Anh yêu em, Louise. Yêu hơn bất cứ thứ gì trên đời. Anh yêu em và anh cần em, và thề có Chúa, anh sẽ làm cho em khỏe lại!”.
Bác sĩ rút kim ra khỏi cổ tay Louise, lấy chai huyết thanh trên kệ rồi để chúng sang một bên. Ông lại kiểm tra mạch của cô. Điều tưởng chừng như không thể, nhưng lại là sự thật - mạch đã mạnh và ổn định.
“Em cảm thấy thế nào rồi?”. John hỏi, giọng của anh đã bình tĩnh trở lại.
Nhưng Louise không trả lời được. Cô đang khóc.
Bác sĩ Case nói: “Cô ấy đang khỏe dần lên. Nhờ anh đấy, John!”.
Ông ra hiệu cho cô y tá, cô bèn rút kim ra khỏi tay John, cất cái lọ ở dưới bàn phẫu thuật đi và kéo tấm màn ra. Rồi cô y tá cùng bác sĩ đi ra ngoài.
Vài phút sau, khi bác sĩ quay trở lại thì John đang ngồi bên cạnh Louise, nắm lấy hai tay cô và trò chuyện cùng cô.
Rồi bác sĩ nói với tôi: “Cô ấy hãy còn yếu lắm. Nhưng tôi biết cô ấy sẽ khỏe dần lên. Và cô ấy khỏe lên thật”.
Ồng bác sĩ lắc đầu: “Bấy nhiêu đó đủ thấy là có phép lạ xảy ra rồi. Máu của John không tương thích với máu của vợ. Nếu truyền thật thì cô ấy đã chết rồi. Chúng tôi truyền thêm huyết thanh cho cô ấy, còn máu của John thì cho chảy vào lọ thủy tinh. Điều cô gái ấy cần là John. Và cô đã có anh”.

(Trúc Mai dịch theo Chicken Soup for Couple's Soul)
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $19,424
Posts: 7280
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Những Bài Viết Ngắn Chọn Lọc (Sưu Tập)

Postby bevanng » 11 Jan 2018

Vị anh hùng của tình yêu


Tôi nhớ thời thơ ấu tôi không hề có một thần tượng nào. Tôi chỉ phát hiện ra vị anh hùng của mình vào những năm tôi trở thành học sinh trung học và anh ấy không hề giống với một người hùng mà tôi từng hình dung. Anh ấy không giàu có cũng chẳng hề nổi tiếng. Anh không phải là ngôi sao thể thao cũng chẳng phải là một minh tinh màn bạc. Đơn giản, anh chỉ là người mà tôi ngưỡng mộ. Anh là anh trai của tôi, người tôi vô cùng yêu thương và quý mến.
Anh tôi, Tony, gặp chị Sheila, vợ anh ấy bây giờ, khi anh đang theo học trường y. Và tôi gặp được chị trong buổi lễ tốt nghiệp của anh tôi. Nhìn khóe môi luôn rạng rỡ nụ cười, tôi cảm nhận nghị lực và sức sống toát ra từ con người mạnh mẽ của chị.
Chị Sheila là một y tá người Anh. Vào thời điểm ấy, nghề y tá là rất cần thiết nên chị nhanh chóng được nhận vào bệnh viện Hoa Kỳ, được nhận thị thực làm việc và sinh sống tại vùng Dallas. Rồi chị gặp anh tôi ở bệnh viện Parkland, nơi chị làm y tá còn anh tôi mới chỉ là một sinh viên thực tập.
Tony bận rộn suốt ngày với đề án thực tập nên không thể có một mối quan hệ yêu đương với bất cứ ai. Dù vậy, tôi biết chắc chắn đây không phải là một tình cảm thoáng qua. Tôi từng thấy họ yên lặng ngồi bên nhau trong phòng, tay trong tay và say sưa trò chuyện, ánh mắt nồng nàn trao nhau. Trong tiềm thức, tôi tin vào tình yêu bền vững của họ.
Sau khi tốt nghiệp, anh Tony nhận việc ở Kentucky. Chị Sheila cũng theo anh đến đó. Có một thời gian hai người xa nhau, chị chuyển đến làm việc tại một bệnh viện ở Canada, khi trở lại Kentucky thì thị thực hết hạn nên chị bị trục xuất trở lại Anh. Chuyện này đã khiến Tony như người mất trí, anh lo lắng cho chị từng giây từng phút, mong mỏi chị sớm trở về cùng anh. Và ngay khi chị Sheila trở về Kentucky, cả hai đã cưới nhau. Cuộc sống chung của cả hai thực sự bắt đầu.
Những năm đầu tiên trong cuộc sống vợ chồng diễn ra khá suôn sẻ, dù họ phải vài lần chuyển nhà vì yêu cầu của công việc - từ Kentucky sang New Mexico, từ New Mexico sang Texas và trở lại New Mexico. Rồi, hai đứa con trai, Cameron và Sheldon, lần lượt chào đời. Họ mua một căn nhà mới có cả một cánh đồng cỏ bát ngát với một địa thế núi non tuyệt đẹp ở Corrales, New Mexico.
Một ngày đầu xuân, khí trời ấm áp, khắp nơi tràn ngập ánh mặt trời và cánh đồng cỏ xanh biếc cứ dập dờn theo làn gió mơn man, anh Tony dẫn bọn trẻ đi câu cá còn chị Sheila thì cưỡi ngựa rong ruổi trên cánh đồng cô trải dài theo tầm mắt. Hạnh phúc tưởng đang chuyển động quanh họ cùng với đất trời vào xuân. Chị Sheila mê mải với sở thích của mình, không biết được điều gì sẽ xảy ra ở phía trước, vô tình, con ngựa bị ngã do vướng chân vào một sợi dây thép gai, chị Sheila bị ngã chúi theo, mặt đập xuống vũng bùn, con ngựa ngã đè lên thân chị.
Khi được phát hiện ra thì chị Sheila đã nằm bất động trong trạng thái hôn mê sâu, không biết đến bao giờ mới tính lại. Hàng ngày, anh Tony ở bên cạnh chị, nắm lấy tay chị và thì thầm những lời yêu thương. Anh mong chị tỉnh dậy, lại cùng nhau sống vui vẻ, hạnh phúc. Rồi anh cầu nguyện Chúa ban cho chị nguồn sống để nụ cười mãi lấp lánh trên gương mặt rạng ngời của chị. Như có phép mầu, hai tuần sau chị Sheila tỉnh lại, nhưng chị bị mất trí, không thể đi, không thể nói và không thể làm bất cứ việc gì. Chị cần thêm nhiều thời gian để phục hồi kỹ năng vận động và trí nhớ. Đó thực sự là một chặng đường dài đầy chông gai.
Cuộc sống của gia đình Tony thực sự thay đổi, tất cả mọi việc giờ đây đều do anh gánh vác. Hàng ngày, anh dậy sớm để lo bữa sáng, đút cho vợ ăn, chuẩn bị đưa các con đến trường. Khi đi làm trở về, anh kể chuyện và hát cho các con nghe, trò chuyện với vợ để chị khôi phục trí nhớ. Anh vừa là một người chồng, người cha và thực hiện luôn cả vai trò của một người mẹ. Anh thật sự vất vả, nhưng tình yêu anh dành cho Sheila, cho các con đã giúp anh vượt lên tất cả, anh chỉ mong chị được khỏe mạnh.
Sheila vào viện, lưu lại đấy vài tháng để bác sĩ tìm hướng điều trị, rồi xuất viện nhưng kết quả không mấy khả quan. Chị vẫn không thể tự di chuyển, không thể nói rõ ràng, không thể viết và cũng không nhớ bất cứ một điều gì. Thậm chí, chị còn nghĩ anh Tony là một người thợ sửa xe. Hàng ngày, anh Tony vẫn tắm cho chị, chải tóc cho chị, tặng chị nhiều quà và chăm sóc chị chu đáo. Một thời gian khá lâu, Sheila dần tiến bộ, chị bắt đầu nhớ được những điều trong hiện tại, học lại tên những người thân và có thể tự ăn, tự chải tóc và có thể đi vài bước với sự hỗ trợ của chiếc nạng.
Dù chị Sheila đã khá hơn nhiều, nhưng phần lớn những sinh hoạt hằng ngày vẫn chủ yếu dựa vào anh Tony. Sự lệ thuộc này ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần của Sheila, chị trở nên buồn bã và mất tự tin vào bản thân. Tôi lo ngại rằng cuộc hôn nhân của họ sẽ đổ vỡ, tình yêu, nụ cười và cuộc sống mà họ từng có chỉ còn là quá khứ. Mỗi ngày trôi đi thật sự là một cuộc tranh đấu nặng nề giữa tình yêu thương và gánh nặng lo toan.
Tình yêu đã tiếp thêm cho họ sức mạnh. Tôi nhìn thấy hạnh phúc của họ trong một buổi sáng Chủ nhật trong vắt. Chị Sheila đang ngồi trên ghế bành còn anh Tony chạy loanh quanh như một người giúp việc, dọn dẹp, nấu ăn và trông chừng lũ trẻ. Bọn trẻ đang xem tivi, nhạc đang mở lớn và đây hẳn là một buổi sáng Chủ nhật tiêu biểu trong gia đình anh. Đột nhiên, anh Tony vặn to nhạc hơn, nhịp nhịp tay và nhảy múa một mình. Tôi ngạc nhiên nhìn anh một cách thú vị, bọn trẻ cười khúc khích và nhảy múa theo anh. Sheila nhìn ba cha con không chớp mắt, đôi mắt chị trông vẫn còn ngơ ngác nhưng những giọt nước mắt bỗng từ từ lăn dài trên gương mặt chị. Có vẻ như điều kỳ diệu đã xảy ra. Dường như chị đã tìm lại được ký ức từng thất lạc của mình. Khi nhạc chuyển sang bản Wonderful Tonight quen thuộc - bản nhạc kỷ niệm từ thuở hai người mới quen nhau - anh nhẹ nhàng đến bên chị và dịu dàng dìu chị xoay theo điệu nhạc trong vòng tay vững chãi của mình. Thời gian như dừng lại, tất cả như ngừng thở để chiêm ngưỡng phép nhiệm mầu.
Tôi nhìn anh Tony và nhận ra rằng tình yêu anh dành cho chị không chỉ chan chứa trong con tim anh mà nó đã ngập tràn cả căn phòng, hòa trong điệu nhạc du dương, tỏa sáng trong sắc nắng lung linh kỳ diệu.

(Nguyễn Vũ Hưng dịch theo Everyday Heroes)
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $19,424
Posts: 7280
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Những Bài Viết Ngắn Chọn Lọc (Sưu Tập)

Postby bevanng » 11 Jan 2018

Cơ hội của cuộc sống


Cô ngồi thẳng người trên giường bệnh, Buddy mỉm cười trấn an Ruth - vợ anh - rằng: “Anh sẽ sớm trở về nhà và nhảy điệu tango với em! Em an tâm và đừng lo lắng gì cả”.
Ruth mỉm cười, khẻ gật đầu tỏ vẻ đồng ý và siết nhẹ tay chồng. Cô hiểu rằng, anh đang chịu đựng nỗi đau lớn hơn gấp nhiều lần so với những gì anh cố thể hiện ra bên ngoài. Buddy muốn mọi người bớt lo lắng và tin rằng, cơn đau tim không thể hạ gục được anh vào lúc này. Bỗng nhiên, gương mặt Buddy đờ ra, xanh xám, trái tim anh đập yếu ớt. Anh ngước nhìn Ruth thì thầm: “Tạm biệt em yêu…”.
Ruth thét lên khi thấy bàn tay chồng chợt buông thõng trong tay mình. Bác sĩ, y tá lập tức chạy đến buộc mọi người ra ngoài ngay. Ruth chỉ biết tuyệt vọng đứng ngoài hành lang theo dõi Buddy qua lớp cửa kính.
Trong lúc cơ thể đang đứng giữa ranh giới sự sống và cái chết, tiềm thức của Buddy bỗng nghe tiếng nói: “Không phải lúc này! Hãy quay trở lại!”.
Buddy chớp chớp mắt và hồi tỉnh, khi đó anh mới biết bác sĩ đã tiến hành phẫu thuật và ghép tim nhân tạo cho anh. Kết quả vô cùng thành công và bất ngờ như một phép mầu. 
Bệnh tình của Buddy hoàn toàn hồi phục và anh trở về với cuộc sống bình thường. Thế nhưng, kể từ hôm đó, anh không bao giờ quên được câu nói: “Không phải là lúc này! Hãy quay trở lại!”.
Bây giờ, mỗi ngày được ở bên cạnh những người thân yêu, đối với anh là một món quà vô cùng ý nghĩa và đặc biệt.
Buddy vui sống từng ngày với một sự cảm nhận mới về cuộc sống, làm anh cảm thấy cuộc đời quá đỗi quý giá, thiêng liêng mà trước đây anh không nhận ra.
Có thể cuộc sống sẽ không còn cơ hội cho anh một lần nữa, nhưng với anh, quãng thời gian này đã là những thời khác vô cùng có ý nghĩa. Anh không hối tiếc về điều gì cả, vì anh không những biết sống cho riêng mình mà còn dành thời gian quan tâm, chia sẻ với mọi người. Anh đã tận hưởng cuộc sống một cách trọn vẹn và có ý nghĩa nhất.

(Bích Thủy dịch theo A second chance)
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $19,424
Posts: 7280
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Những Bài Viết Ngắn Chọn Lọc (Sưu Tập)

Postby bevanng » 11 Jan 2018

Ghi khắc trong tim


Hôm ấy là hôm trước lễ Giáng sinh. Chồng tôi - anh Dan - và một người bạn của anh là Mike đi vào một hẻm núi gần nhà chúng tôi ở Nam California để xem thảm thực vật đã bị cháy sém vài tháng trước có mọc lại hay chưa. Dan và Mike đều là thành viên của Hội thực vật tự nhiên California. Họ thật sự là những “kẻ săn cây”, luôn lùng sục các hẻm núi và những ngọn đồi quanh vùng để tìm các loại cây và chụp ảnh chúng.
Hôm ấy, sau khi Mike ra về, Dan quyết định thực hiện cuộc “nghiên cứu một mình” nho nhỏ bằng cách đi bộ lên hẻm núi Laguna, một khu vực hẻo lánh hơn và ít được thám hiểm. Anh đi vào hẻm núi được mấy dặm, chụp được một vài tấm ảnh và đang quay trở ra chỗ xe tải, thì đột nhiên anh giẫm phải một khoảng đất lở ngập nước. Anh bị trượt ngã xuống con dốc gồ ghề cao gần mười một mét, va vào nhiều thân cây trước khi rơi xuống một rìa đá. Ngay lập tức, anh biết có chuyện xảy ra với chân trái của mình. Nó vắt qua chân kia theo “một góc không thể tưởng tượng” được.
Do còn sững sờ trước cú ngã, nên phải mất một lát sau Dan mới nhận thức là chân mình không thể đi được nữa. Rồi Dan biết mình đang gặp rắc rối to. Màn đêm sẽ buông xuống, và không một ai biết anh đang ở đâu. Anh phải ra đến được lối đi chính, nếu không anh sẽ chết ở đó trước khi có người tìm ra anh. Anh kẹp chân bị gãy vào chân bên kia và dồn hết sức lực vào đôi bàn tay lê từng chút xuống hẻm núi.
Di chuyển từng bước chậm chạp và đau đớn, Dan thường phải dừng lại để nghỉ mệt và kêu cứu. Không có gì đáp lại ngoại trừ tiếng vọng kỳ quái của chính giọng nói anh vang trên vách đá. Khi mặt trời lặn, nhiệt độ bắt đầu xuống thấp. Trong vùng đồi núi, tiết trời rất lạnh khi đêm xuống, và Dan biết nếu dừng lại quá lâu, có thể anh sẽ bất tỉnh. Càng lúc càng cảm thấy khó khăn, nhưng sau mỗi lần nghỉ, Dan buộc mình phải tiếp tục kéo lê cơ thể đang đau đớn về phía trước bằng đôi bàn tay đã sưng tấy của mình. Anh tiếp tục cuộc di chuyển kinh khủng này được thêm mười hai giờ nữa.
Nhưng sau cùng, sức mạnh và sự quyết tâm của anh cũng không còn. Anh kiệt sức hoàn toàn và không thể di chuyển thêm một chút nào nữa. Mặc dù biết là chẳng ích gì, nhưng anh vẫn lấy hết sức tàn thét lên kêu cứu một lần nữa.
Bỗng anh kinh ngạc khi nghe thấy một giọng nói đáp lại. Một giọng nói thật sự, chứ không phải một tiếng vang. Giọng nói đó là của Jeb - con trai riêng của tôi. Tôi và thằng bé cùng với cảnh sát và nhân viên y tế đang đi tìm Dan.
Trước đó, vì không thấy Dan về nên tôi rất lo lắng và gọi điện thoại cho Mike. Lúc đầu, Mike cố gắng tự mình đi tìm Dan. Anh lái xe qua nhiều hẻm núi để tìm chiếc xe tải của Dan. Sau cùng, anh gọi điện cho cảnh sát và báo rằng Dan đã mất tích.
Tôi vẫn giữ được bình tĩnh và mạnh mẽ cho đến khi nghe Jeb nói là đã nghe thấy tiếng của Dan. Lúc ấy tôi mới òa khóc và cảm nhận hết nỗi lo sợ và kinh hãi mà tôi đã cố tránh không nghĩ đến trong nhiều giờ đồng hồ. Phải mất hơn hai tiếng đồng hồ đội cứu hộ mới mang được Dan xuống hẻm núi. Sau đó các nhân viên y tế đưa anh đi trên một băng ca. Khi đến thăm anh tại bệnh viện, nước mắt tôi lại tuôn trào. Ý nghĩ mình suýt mất người đàn ông tuyệt vời này khiến tôi suy sụp. Chỉ đến khi cảm nhận được vòng tay của Dan bên mình, tôi mới nín khóc được.
Khi ngồi bên giường bệnh của anh, tôi cứ ngắm nhìn mải khuôn mặt mà tôi đã lo sợ là sẽ không bao giờ còn được gặp lại. Khi đó, Dan đã kể cho tôi nghe câu chuyện này. Dan nói rằng ngay khi bị trượt xuống hẻm núi và nhận ra tình huống nguy kịch của mình, Dan đã nghĩ đến tôi và nghĩ rằng anh ấy sẽ nhớ tôi biết bao nếu như anh không thể trở về. Khi nằm ở dưới chân vách đá gồ ghề, anh đã mò mẫm mãi xung quanh mới tìm được một hòn đá thích hợp. Anh đã ráng hết sức dùng cạnh sắc của hòn đá đó để khắc vào tảng đá lớn gần đó một thông điệp để lại cho tôi. Nếu điều xấu nhất xảy ra, anh ấy hy vọng cuối cùng tôi sẽ thấy tảng đá đó và hiểu rằng tôi đã luôn ở gần anh ấy, mãi trong trái tim anh.
Tôi lại khóc nức nở. Tôi biết mình yêu chồng sâu sắc đến độ nào, nhưng tôi không ngờ được điều này, đó là tình yêu sâu sắc anh dành cho tôi.
Ở một nơi nào đó sâu trong các ngọn đồi rậm rạp của hẻm núi Laguna, có một tảng đá lớn khắc hình một trái tim. Và trong trái tim khắc hàng chữ: Elizabeth, anh yêu em.

(Bích Nhi dịch theo Chicken Soup for Couple's Soul)
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $19,424
Posts: 7280
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Những Bài Viết Ngắn Chọn Lọc (Sưu Tập)

Postby bevanng » 20 Jan 2018

Đôi bàn tay yêu thương


Bảy tháng rưỡi trôi qua lạnh lùng như vun đầy thêm nỗi đau trong trái tim tôi, Paul đã ra đi, anh mang theo tình yêu và cả đôi bàn tay nhiều cảm xúc. Đôi tay anh luôn có cảm giác chắc chắn và tinh tế đến lạ. Cái nắm tay siết nhẹ ấm áp tình yêu, tràn đầy niềm tin và sự bình yên vô tận. Những ngày cuối đời, mỗi khi đôi bàn tay ấy tìm kiếm tay tôi, anh đều dùng cả hai tay nắm chặt tay tôi như muốn chia sẻ với tôi tất cả những tình cảm không thể nói hết bằng lời.
Tôi nhớ rõ từng chi tiết, từng cử chỉ của đôi bàn tay anh. Những ngón vuông, dài và gân guốc. Móng tay vuông vuông điểm vành trăng màu trắng và được bao quanh bởi lớp da khá dày. Đúng nghĩa đôi bàn tay của một người cầm phấn và cầm viết, không khô ráp, không mềm mại, không trau chuốt. Đôi bàn tay anh mộc mạc, giản dị và khẳng khái nhưng cũng thật nhẹ nhàng và khéo léo.
Tôi còn nhớ trong những năm theo đuổi tôi, có lần anh được mời đến dùng cơm tối với gia đình, mẹ tôi thật sự thú vị với cách anh sử dụng bộ đồ ăn bạc và tách chén mà không gây ra một tiếng động nhỏ nào.
Tôi cũng nhớ rất rõ từng cái nắm tay của anh, cái nắm tay rụt rè của lần đầu chạm đến tình yêu giữa một buổi chiều thu đầy lá vàng, cái nắm tay siết chặt vào giây phút trọng đại của cuộc đời ở nhà thờ, cái nắm tay trấn an trên giường bệnh trong suốt bốn năm cuối đời của anh. Lúc nào, đôi bàn tay anh cũng truyền cho tôi hơi ấm của tình yêu chân thành và thuần khiết, khởi nguồn yêu thương che chở cho cả gia đình.
Khi những đứa trẻ ra đời, tôi thật sự tự hào và hạnh phúc pha lẫn sự thú vị mỗi lần ngắm anh tự tay tắm cho con. Đứa bé nhỏ xíu nằm gọn trong bàn tay yêu thương của bố, để cho những ngón tay vuông vuông của anh nhẹ nhàng, tỉ mỉ chăm chút mỗi ngày. Đôi tay ấy, trong những năm cơ cực, đã cắt tóc cho ba đứa con trai cho tới lúc chúng trưởng thành và lau khô tóc cho ba cô con gái sau khi chúng tắm.
Đôi tay anh khéo léo xếp đặt những chiếc valy nặng kềnh càng lên mui xe một cách cẩn thận cho hai mươi tám chuyến đi nghỉ hè về quê ngoại tận Pennsylvania. Đôi tay anh chia bánh thánh ở nhà thờ cho tất cả mọi người. Đôi tay anh vẽ vô số hình minh họa trong không khí khi anh say sưa giảng bài. Và đôi tay ấy đã nắm chặt tay tôi và các con trong những thời khắc nguy kịch nhất của cuộc đời anh.
Cuối cùng, anh không còn nắm tay tôi được nữa. Không còn cử động, không còn nhận biết, không phản hồi khi tôi đặt chéo tay anh trước ngực. Tôi hoảng loạn siết chặt tay anh trong tay tôi, lay gọi nhưng bàn tay anh cứ lạnh dần. Tôi không còn làm được gì ngoài việc vuốt cho đôi mắt anh khép lại và nắm tay anh lần cuối trong căn phòng ngủ yên ắng đầy ắp tình yêu anh dành cho tôi.
Không lâu sau, con trai út của chúng tôi - đứa giống cha nhất - đến thăm tôi. Lúc ra về, Stephen hôn chúc tôi ngủ ngon và, đột nhiên, nắm chặt tay tôi trong đôi tay to lớn của nó. Tôi đứng lặng người. Cứ như thể đôi tay dài, yêu thương của cha nó đang nắm lấy tay tôi lần nữa. Đôi tay ấy lại trấn an tôi. Gợi lại cho tôi cảm xúc ngọt ngào về anh.
Và tôi nghĩ rằng, cho dù không có được thành tựu gì lớn lao trong cuộc đời này thì chúng ta cũng đã làm được rất nhiều trong từng cái nắm tay chân thành mà chúng ta đã trao đi trong suốt cuộc đời mình.

(Thái Hiền dịch theo Holding Hands)
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $19,424
Posts: 7280
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Những Bài Viết Ngắn Chọn Lọc (Sưu Tập)

Postby bevanng » 20 Jan 2018

Cuộc sống thiếu Michael


Tôi học được rất nhiều điều từ Michael Landon(*). Giờ đây, tôi tin rằng sức mạnh tôi có được là nhờ anh. Vài tuần trước khi mất, anh viết cho tôi những lời khuyên bảo tạ từ. Đối với tôi, nó rất đặc biệt và tôi đọc nó thường xuyên. Trong đó, anh viết: “Em hãy mạnh mẽ lên, cứng rắn lên. Hãy tận hưởng cuộc sống, yêu đời và sống vui em nhé”. Michael từng nói với tôi: “Đừng đau buồn quá lâu”. Tôi đang rất cố gắng, nhưng mất đi một người như Michael là điều sẽ mãi đau đớn trong lòng tôi.
(*) Michael Landon (1936 - 1991): Diễn viên, tác giả, nhà sản xuất và đạo diễn truyền hình người Mỹ. Ông rất nổi tiếng với vai người cha (nhân vật Charles Ingalls) trong bộ phim truyền hình Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên, ông cùng là nhà sản xuất và đạo diễn một số tập của bộ phim này.
Khi mất một người mà ta yêu thương, nỗi đau đó sẽ giằng xé trong lòng ta mỗi ngày. Thời gian đầu, Sean, cậu con trai năm tuổi của chúng tôi, gặp rất nhiều khó khăn khi nhắc đến cha nó. Mãi về sau, nó mới bắt đầu xem Michael trên ti vi trở lại và thú nhận là nó rất nhớ bố. Sáng nay cũng vậy, nó bảo tôi rằng nó nhớ cha đến não lòng. Còn Jennifer được tám tuổi và con bé cũng trải qua một giai đoạn thật khó khăn, cả ba mẹ con tôi đều phải đi điều trị tâm lý. Chúng tôi chỉ sống cho qua ngày tháng. 
Tôi và bọn trẻ đi viếng nghĩa trang thường xuyên. Chúng tôi mang thư đến cho Michael chỉ để kể cho anh nghe về những cảm giác và những điều xảy ra trong cuộc sống của chúng tôi. Nhưng ở đó tôi không cảm thấy được gần gũi với anh như khi ở nhà, nơi mà mỗi căn phòng đều có rất nhiều ảnh của anh và quần áo anh vẫn ở trong tủ, như thể anh chỉ vừa đi khỏi. Michael thích nhất là được ở trong ngôi nhà này. Thỉnh thoảng, nhất là trước khi đi ngủ, tôi lại ước gì anh đang đợi tôi trên lầu để chúng tôi có thể ngồi bên nhau và kể cho nhau nghe về những việc xảy ra trong ngày.
Lần đầu tiên tôi gặp Michael là năm tôi mười chín tuổi, năm ấy tôi được chọn đóng một vai phụ trong bộ phim “Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên”. Nhìn cách anh đối xử với mọi người, tôi bỗng phải lòng anh say đắm. Hai năm sau khi tôi tham gia vào đoàn làm phim, vào một đêm nọ, anh đến nhà tôi sau một bữa tiệc ở trường quay. Kể từ đó, chúng tôi yêu nhau cuồng nhiệt.
Chúng tôi kết hôn vào ngày lễ Tinh nhân năm 1983. Anh là một người chồng tuyệt vời - mạnh mẽ, chu đáo, biết cảm thông và rất hóm hỉnh. Michael còn là người luôn hướng về gia đình. Mỗi ngày, trước khi rời trường quay, anh đều gọi điện thoại hỏi xem chúng tôi có cần mua gì ở chợ hay không. Khi về nhà, anh sẽ xuất hiện với một túi đầy bánh kẹo trên tay. Michael thích nấu nướng và nhiều đêm, anh còn giành lấy nhà bếp. Sở trường của anh ấy là các món ăn kiểu Ý, như món mì xúc xích hay món mì gà.
Anh không chỉ là một người chồng tốt mà còn là một người cha tuyệt vời. Tôi rất thích ngắm anh mỗi khi anh vui đùa cùng bọn trẻ, nhất là vào những kỳ nghỉ. Lúc ở Hawaii, anh ấy đã chỉ cho các con chơi ném đá trên mặt nước và phấn khích không kém gì chúng mỗi khi tìm được một vỏ ốc đẹp hay một con ốc mượn hồn nhỏ xíu. Anh có thể bỏ ra hàng giờ, nhiều giờ liền, để vui chơi với Sean và Jennifer ngoài biển. Mọi thứ thật tuyệt vời. Michael yêu cuộc sống của chúng tôi và công việc của mình. Sức khỏe của anh cực kỳ tốt. Và chúng tôi luôn mong rằng mình sẽ cùng nhau chung sống đến bạc đầu.
Thế rồi vào tháng Hai năm 1991, anh bắt đầu bị đau bụng. Để Michael chịu đi khám bệnh quả là một việc rất khó khăn. Cuối cùng, tôi cũng hẹn được với bác sĩ và anh được đưa đi kiểm tra vết loét. Các bác sĩ không phát hiện được gì cả, nhưng họ cũng cho anh một vài loại thuốc hỗ trợ trong một thời gian.
Đầu tháng Tư, cơn đau lại tái phát. Bốn ngày sau đó, ngày 5 tháng Tư, anh nhận được kết quả sinh thiết: ung thư tụy và đã di căn đến gan.
Giờ đây nghĩ lại, tôi tin rằng ngay từ dạo ấy Michael đã biết là anh không thể qua khỏi. Ung thư tuyến tụy phát triển rất nhanh và là căn bệnh chết người với tỉ lệ sống sót sau 5 năm chỉ có ba phần trăm. Tôi giận điếng người. Tại sao điều này lại xảy ra? Michael nhìn vấn đề một cách thực tế hơn, cũng như cách anh luôn thể hiện trong cuộc sống. Ngay từ giây phút biết được kết quả xét nghiệm cho đến khi qua đời, anh chẳng bao giờ tức giận. Có lần anh nói với tôi: “Chúa không mang lại điều này. Đó là một căn bệnh. Chúa không mang đến bệnh ung thư”. Đối với Michael, cái chết không phải điều gì đáng sợ, nhưng anh cũng không muốn chết. Anh không muốn rời xa những người anh yêu thương.
Chúng tôi nói rõ việc này với bọn trẻ ngay từ đầu. Tôi và Michael gọi mấy đứa con lớn lại và cho chúng biết chuyện gì đang xảy ra, rồi chúng tôi ngồi lại chuyện trò với hai đứa nhỏ hơn. Chúng tôi nói với chúng rằng Cha đã mắc phải một căn bệnh ung thư rất nguy hiểm và Cha sẽ cố hết sức để chống chọi với căn bệnh, nhưng không có gì bảo đảm. Sean rất bình tĩnh. Tôi không chắc là thằng bé có thật sự hiểu được gì hay không. Cả Jennifer cũng có vẻ bình tĩnh khi biết tin, nhưng sau đó có những dấu hiệu cho thấy con bé bị tổn thương tinh thần - chứng đau bao tử, đau đầu và những cơn hoảng loạn cứ ập đến.
Đó là những khoảnh khác đầu tiên trước khi cơn bão truyền thông vây lấy chúng tôi, ngay sau khi tin tức về căn bệnh của Michael được đưa lên báo. Phóng viên ảnh vây quanh nhà chúng tôi và cả ở bệnh viện. Họ leo lên tường và nhòm vào cửa sổ. Các tờ báo lá cải cho đăng những câu chuyện kỳ quặc. Hầu như mỗi tuần họ lại bịa đặt ra một chuyện mới. Có lần, họ nói rằng Michael chỉ còn sống được bốn tuần. Lần khác, họ khẳng định rằng các tế bào ung thư đã di căn đến ruột kết. Chẳng có tin nào đúng. Trong khi đó, công chúng đã đáp lại câu chuyện của chúng tôi bằng tình yêu thương và sự cảm thông. Chúng tôi nhận được hàng núi thư - mười hai ngàn bức thư mỗi tuần. Michael cảm động sâu sắc, anh nói với tôi: “Đây là lần đầu tiên anh nhận ra mình đả tác động đến biết bao nhiêu người”.
Trong vòng chưa đầy một tháng, khối ung thư đã tăng kích thước gấp đôi. Đó cũng là lần đầu tiên tôi nghĩ rằng cả hai chúng tôi đều nhận ra là Michael sắp chết. Chiều hôm ấy, chúng tôi ôm lấy nhau. Tôi ngả đầu vào lòng anh và khóc. Michael vuốt tóc tôi và khẽ nói: “Anh biết, anh biết”.
Dù lúc đầu ra sức phản đối nhưng sau cùng, Michael cũng đồng ý thử phương pháp hóa trị. Anh ghét việc đó và tôi nghĩ rằng anh sẽ không đồng ý nếu không phải vì tôi và các con. Anh đang nỗ lực hết mình một lần cuối cùng để sống sót.
Tuy nhiên, sức khỏe của Michael vẫn ngày càng xấu đi và đến Ngày Của Cha năm ấy, 16 tháng Sáu, tất cả chúng tôi đều biết rõ rằng chúng tôi sẽ chẳng còn được ở bên anh bao lâu nữa. Những năm trước, chúng tôi mua tặng Michael những món quà như vợt tennis. Năm nay chúng tôi mua tặng anh những bộ pyjama và những tấm thiệp thủ công xinh xắn. Cả gia đình quây quần bên anh.
Không lâu sau Ngày của Cha, Michael nói với tôi rằng anh chỉ còn sống được một tuần nữa. Trong tuần lễ cuối cùng đó, sức khỏe của Michael tiếp tục suy giảm. Và rồi đến sáng Chủ nhật, ngày 30 tháng Sáu, cô y tá cho tôi biết họ nghĩ rằng thời điểm kết thúc đã cận kề. Vì vậy, tôi cho gọi các con và những bạn bè thân nhất của Michael đến nhà mình. Do bác sĩ đã tăng liều Morphine và chất Percocet(*) nên trông Michael rất đờ đẫn và rơi vào trạng thái nửa tỉnh nửa mê. Vào ngày cuối cùng đó, mỗi người chúng tôi lần lượt nói lời từ biệt với anh, để anh biết rằng mọi việc sẽ ổn. Nếu anh đã sẵn sàng ra đi, thì anh có thể ra đi.
(*) Cả Morphine và Percocet đều là những chất ma túy, trong y học được dùng như chất giảm đau trong một số trường hợp đặc biệt.
Sáng hôm sau, khi Michael đang chìm trong trạng thái mơ màng, còn tất cả chúng tôi đều đang tập trung ở phòng ngủ, thì đột nhiên anh ấy ngồi dậy và nói: “Xin chào. Ôi, tôi yêu mọi người quá”. Một lúc sau, Michael bảo mọi người ra ngoài để chúng tôi ở lại một mình với nhau. Giờ đây nghĩ lại, tôi tin rằng khi đó anh đã sẵn sàng ra đi và anh thật sự không muốn điều đó xảy ra trước mặt mọi người trong gia đình.
Tôi ngồi lại bên Michael, chờ đợi điều không thể tránh khỏi. Thỉnh thoảng anh ấy lại rơi vào trạng thái đờ đẫn hôn mê. Có lúc tôi hỏi anh: “Anh có nhận ra em là ai không?”. Anh nhìn tôi và trả lời: “Có”. Tôi nói: “Em yêu anh”. Anh trả lời: “Anh cũng yêu em”. Đó là những lời cuối cùng của anh. Một lúc sau, anh ngừng thở.
Tôi bàng hoàng, nán lại với Michael thêm một lúc trước khi xuống lầu báo cho mọi người biết anh đã ra đi. Tuy nhiên, chúng tôi không có nhiều thời gian để đau buồn. Chúng tôi nghe tiếng động cơ trực thăng xoáy trên đầu khi báo giới đổ xô đến, chẳng hiểu làm thế nào họ lại biết tin Michael mất. Bỗng chúng tôi nghe tiếng kêu thét bên ngoài. Jennifer đã leo lên đỉnh của cái đu quay và gào lên: “Không phải cha. Không phải cha. Con không muốn cha qua đời”. Tôi nói những người khác cứ để yên cho con bé như thế, vì tôi muốn nó được giải tỏa tâm lý. Chẳng mấy chốc, nó leo xuống và khóc nức nở trong vòng tay tôi.
Một lúc sau, nhân viên tang lễ đến. Khi họ mang thi hài của Michael đi, tôi biết anh sẽ chẳng bao giờ quay trở lại nữa. Thế là hết, Michael đã ra đi.
Đêm ấy, cả hai đứa nhỏ vào ngủ với tôi. Tôi và Jennifer mặc hai chiếc áo sơ mi của Michael đi ngủ. Tôi cảm thấy mình trở nên bơ vơ, lạc lỏng, như thể tôi không thể hòa hợp với bất cứ điều gì được nữa. Tôi hoàn toàn cô đơn và lạc lối.
Điều tốt nhất tôi có thể làm là ra đi, vì thế tôi đưa bọn trẻ đi nghỉ mát bốn tuần ở Hawaii. Chúng tôi đến một nơi Michael và tôi rất yêu thích. Thật khó khăn, bởi Michael không có ở đấy cùng chúng tôi. Nhưng đau đớn hơn nữa là khi trở về nhà, mẹ con tôi biết rằng Michael cũng không có ở đó để chào đón chúng tôi.
Chúng tôi dần bình tâm trở lại, nhưng tất cả đều cần có thời gian. Thỉnh thoảng bọn trẻ vẫn vào ngủ với tôi, dù không thường xuyên như lúc trước. Chỉ có điều dường như chúng cần được ôm ấp, vổ về nhiều hơn. Và tôi vẫn còn gặp phải những thời điểm cực kỳ khó khăn. Mấy hôm trước, tôi đang đi trên xa lộ và rẽ nhầm đường. Cuối cùng tôi dừng lại trước phim trường. Đó chính là nơi mà tôi và bọn trẻ thường đến thăm cha của chúng. Điều đó đã trở thành một phần cuộc sống của chúng tôi. Nhưng Michael đã đi rồi và cuộc sống của chúng tôi đều bị thay đổi.
Thật kỳ lạ, nhưng trước khi Michael mất, tôi rất sợ cái chết. Tôi thường lo lắng về bệnh tật hoặc đôi khi sợ cả việc lên máy bay. Bây giờ tôi không còn sợ nữa. Cuộc sống quá ngắn ngủi. Chúng ta không thể biết chắc được tương lai như thế nào, vậy nên chúng ta phải sống hết mình trong từng khoảnh khắc.
Khi nghĩ về Michael, điều tôi nhớ nhất là cách anh ấy tận hưởng cuộc sống như thế nào và yêu thương gia đình mình mãnh liệt ra sao. Cuộc hôn nhân của chúng tôi thật hạnh phúc: Michael luôn ở bên tôi và tôi cũng luôn ở cạnh anh. Sau khi phát hiện bệnh, có lần anh nói với tôi rằng dù thắng hay thua, anh cũng có thể lo liệu được những điều sẽ xảy ra. Anh ấy nói: “Anh đã có một cuộc sống thật tuyệt diệu và niềm hạnh phúc thật lớn lao”. Từng ngày trôi qua tôi đều tiếc nhớ Michael, nhưng tôi biết cho dù anh ấy đang ở đâu, anh cũng đang mạnh khỏe và hạnh phúc - và một ngày nào đó tôi sẽ lại gặp anh.

(Xuân Giang dịch theo Chicken Soup for the Soul)
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $19,424
Posts: 7280
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Những Bài Viết Ngắn Chọn Lọc (Sưu Tập)

Postby bevanng » 20 Jan 2018

Sergie của tôi


Nếu như được sống lại cuộc đời mình, bạn sẽ làm điều gì khác đi?” - Nếu có ai đó hỏi bạn câu này thì bạn sẽ trả lời thế nào? Còn với tôi, tôi chỉ mong được sống lại quãng đời đã qua, khi ngày mai sẽ trở thành ngày hôm qua, ngày kia sẽ là hai ngày trước, cứ thế… Nếu có thể, tôi sẽ đánh đổi mỗi ngày mình đang sống để lấy bất kỳ một ngày nào của quá khứ vì tôi muốn mãi mãi được sống trong hạnh phúc với Sergei. Ước muốn ấy giống như cố tìm lại sao chổi đã xuất hiện vào mùa xuân năm trước, một ngôi sao chỉ lướt qua Trái đất chỉ có một lần trong mười bảy ngàn năm. Nhưng dù cho cuộc sống trước mắt có ra sao thì những năm tháng tươi đẹp nhất tôi đã gắn bó với Sergei sẽ lưu mãi trong tim tôi.
Mọi chuyện đến với Sergei và tôi thật tự nhiên, trong sáng, thơ mộng như mặt nước hồ vào những đêm sáng trăng. Sergei đến với tôi chân thành như một người bạn, cả hai luôn sóng đôi bên nhau trên đường băng trước ánh mắt của hàng ngàn khán giả. Rồi chúng tôi yêu nhau, Sergei tinh tế, dịu dàng, anh cho tôi những giây phút ngọt ngào, lãng mạn. Rồi chúng tôi kết hôn và có con với nhau. Tôi được sống hạnh phúc trong một thế giới mà tôi không còn mong đợi gì hơn: một người chồng chuẩn mực, một đứa con xinh ngoan, còn bản thân tôi vẫn có thể tiếp tục theo đuổi bộ môn trượt băng nghệ thuật yêu thích của mình.
Nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng bình yên như ta mong muốn. Cuộc sống ban cho tôi mọi thứ: tình yêu, con cái, sự nghiệp, của cải… rồi bất ngờ cướp đi niềm vui sống trong tôi vào một mùa đông lạnh lẽo, rét buốt. Sergei ra đi để lại một khoảng trống vô hình khiến tôi hụt hẫng, thẫn thờ và đau đớn cùng cực. Tất cả như một trận cuồng phong cuốn tôi khỏi cuộc sống thần tiên và ném vào một khu rừng hoang vu, u ám.
Nhớ ngày đầu mới gặp nhau, Sergei là bạn diễn môn trượt băng nghệ thuật của tôi. Anh lớn hơn tôi bốn tuổi và hoàn toàn khác biệt tôi về nhiều thứ. Chỉ có những cú tung người, những khi xoay chuyển trong vòng tay Sergei là chúng tôi kết hợp rất ăn ý. Và chẳng hiểu vì sao tôi luôn tin rằng Sergei là người duy nhất có thể biểu diễn cùng mình.
Nhiều năm trôi qua, cả hai chúng tôi cùng lớn lên và chuẩn bị tranh tài tại Olympic 1988. Khi cuộc thi đến gần, chúng tôi cảm thấy vô cùng căng thẳng. Trong một buổi luyện tập vào giữa tháng Mười Một, khi Sergei đang nâng tôi trên cao thì anh trượt chân và làm tôi rơi xuống đất, phần đầu bị đập rất mạnh xuống mặt băng. Tôi cảm giác như đầu mình bị chẻ ra làm đôi, mắt mờ đi và tôi lịm người bất tỉnh.
Trong thời gian ở bệnh viện, tôi luôn lo nghĩ về việc luyện tập dở dang, về thế vận hội Olympic sắp đến và càng cảm thấy điên tiết vì cú trượt chân của Sergei.
Một hôm, Sergei đến bệnh viện thăm tôi. Anh mang tặng tôi một đóa hồng rực đỏ nhưng trông anh rất buồn. Đó là lần đầu tiên anh tặng hoa cho tôi. Tôi vừa ngạc nhiên, vừa cảm thấy hạnh phúc khi nhìn anh buồn bã đến vậy. Anh đến thăm và tặng hoa cho tôi mỗi ngày. Và khi có thể trượt băng trở lại, tôi chợt có cảm giác là lạ trong cách anh nâng giữ tôi khi biểu diễn, đôi tay anh như siết chặt tôi hơn, ấm áp và nồng nàn.
Tất niên năm ấy, anh đến dùng cơm và ở lại đón năm mới với gia đình tôi. Tình cảm giữa chúng tôi thật sự nảy nở từ đó. Anh và tôi đã ngồi bên nhau say sưa trò chuyện suốt đêm, tay trong tay tản bộ trên con đường se lạnh vào xuân và lắng nghe âm thanh lạo xạo trên tuyết theo mỗi nhịp bước chân của mình. Những cánh đồng phủ tuyết trắng xóa, tiếng chuông nhà thờ vọng lại từ xa, đây đó những ngôi nhà tràn ngập ánh đèn vàng ấm cúng. Đêm thật đẹp. Và lòng người thật ấm áp.
Năm ấy, chúng tôi giành lại được huy chương vàng Olympic năm 1988 tại Calgary, Canada. Một năm sau chúng tôi cưới nhau và con gái Daria của chúng tôi chào đời hai năm sau đó. Năm 1994, chúng tôi tiếp tục giành được huy chương vàng Olympic thứ hai tại Lillehammer, Na Uy.
Năm 1995, chúng tôi tập luyện tại Lake Placid cho chuyến lưu diễn “năm mươi năm thành phố của những ngôi sao trượt băng nghệ thuật”. Buổi tập hôm ấy, chúng tôi xuất hiện trong tư thế cả hai cùng quỳ một chân, mặt đối mặt. Tôi tựa đầu vào ngực anh, cảm nhận rõ con tim anh đang vỗ nhịp, mùi hương nhẹ nhàng tỏa ra từ chiếc áo anh đang mặc khiến tôi ngây ngất.
Chúng tôi thực hiện những động tác đầu tiên - cú xoay tròn nâng cao dần. Rồi chúng tôi phải tách ra, gập người lại hai lần trước một pha nâng người lên cao khác. Nhạc dần đến đoạn cao trào, cũng là lúc chúng tôi phải thực hiện động tác quyết định. Nhưng tôi lưu ý thấy Sergei chỉ lướt đi trên băng mà không hề gập người. Tôi nghĩ có thể do lưng của anh lại bị đau. Sergei cũng không thể điều khiển được bàn chân. Anh cố dừng nhưng lại tiếp tục lao nhanh về phía trước và đâm sầm vào những tấm chắn quanh sân. Anh đang bị choáng váng nhưng anh không nói cho tôi biết chuyện gì đang xảy ra. Rồi anh khuỵu chân, loạng choạng ngã xuống mặt băng.
Tôi hốt hoảng lao về phía Sergei. Giữa sân băng lạnh giá mà cơ thể anh vẫn đầm đìa mồ hôi. Khuôn mặt anh lộ rõ vẻ đau đớn, anh không nói được gì, chỉ quằn quại bấu chặt tay tôi. Miệng anh há to và dường như anh đang cố hớp lấy không khí, một cách khó nhọc và bất lực. Tôi thật sự hoảng loạn. Tôi vẫn chưa định thần được chuyện gì đang xảy ra. Ngay lúc ấy tôi chợt quên bẵng vốn tiếng Anh ít ỏi của mình, thậm chí tôi còn không nhớ được từ “giúp đỡ” trong tiếng Anh là gì. Tôi chỉ ra sức vừa chạy vừa la hét, cố tìm một ai đó và nhờ họ giúp đỡ.
Sergei được đưa ngay vào phòng cấp cứu. Dù các bác sĩ đã làm hết sức mình, nhưng họ vẫn không thể giữ anh lại cho tôi. Ở tuổi hai mươi tám, Sergei đã bỏ tôi ra đi mãi mãi vì một cơn đau tim đột ngột. Tôi muốn khóc thật to nhưng tôi tự không cho phép mình khóc, vì tôi biết nước mắt sẽ khiến tôi không thể gượng dậy, tôi sợ mình sẽ gục ngã trước nỗi đau mất anh, tôi sợ anh buồn và thất vọng về tôi. Mắt tôi cứ nhòe đi và cổ họng ứ nghẹn, đắng nghét. Tôi không thể chịu đựng nổi, quá bất ngờ, quá cay đắng. Tôi sẽ sống sao đây khi từ nay không còn ai nâng tôi trong vòng tay, không còn ai vỗ về, yêu thương và chia sẻ cuộc sống này cùng tôi?
Tôi cởi đôi giày trượt ra khỏi chân anh, đôi chân giá lạnh. Tôi xoa hai tay mình vào chân anh, cố làm ấm chúng lại. Tôi cũng muốn làm ấm đôi bàn tay của anh, sưởi ấm cả cơ thể anh. Tôi yêu thương và trân trọng chúng biết mấy. Nhưng hình như tình yêu đó của tôi vẫn không đủ sức giữ anh lại trên cõi đời này.
Anh đã trở vẻ với đất mẹ yêu thương, còn tôi một mình đối diện với nỗi mất mát. Đứa con bé bỏng của chúng tôi hoàn toàn không hiểu được sự ra đi của cha. Tôi cố gắng nói cho Daria hiểu, nhưng chẳng biết phải làm thế nào. Thật khó khăn khi buộc phải thốt ra những lời mà ngay cả tôi cũng cảm thấy vô cùng đau đớn: “Cha con đả mất, cha sẽ không bao giờ trở về nữa…”. Darla chẳng khóc mà cũng chẳng buồn. Thái độ của con bé càng khiến tôi lo sợ. Thế nhưng sau đó con bé đã hỏi: “Nếu con muốn gặp cha thì sao?”. Câu hỏi ngây thơ của con khiến tim tôi tan nát. Tôi phải nói với con rằng cha sẽ về thăm con khi nào cha muốn và đôi khi, con sẽ nhìn thấy cha trong giấc mơ của mình. Tôi còn nói với con rằng, giờ đây cha cũng giống như một thiên thần, cha sẽ không còn trở về nhà mỗi ngày nữa và chúng ta sẽ rất buồn cũng như thỉnh thoảng con sẽ thấy mẹ khóc.
Tôi vừa nói vừa âu yếm nhìn vào đôi mắt con, chỉ mong sao Daria có thể hiểu. Con bé im lặng, đôi chân nó vẫn lắc lư trên thành giường, con bé ngọng nghịu nói: “Mẹ ngoan đi nào, mẹ đừng khóc nữa nhé”. Rồi nó dùng bàn tay bé xíu của mình quệt nước mắt cho tôi. Lòng tôi thắt lại, tôi lại càng muốn khóc to hơn…
Tôi ở lại Moskva sống cùng cha mẹ và khắc khoải đếm từng ngày. Tôi cảm thấy lạc lõng, chơi vơi như không còn điểm tựa - tôi không còn là chính mình nữa. Tất cả giờ đây thật vô nghĩa. Tôi chẳng có một mục đích nào cho cuộc đời mình, chẳng còn gì để cố gắng hay phấn đấu. Mỗi sáng khi mở mắt ra, tôi lại nằm trên giường mà tự hỏi: “Tại sao mình lại thức dậy? Mình ra khỏi giường để làm gì?”. Tôi thấy tương lai thật u ám. Không ai có thể hiểu tôi lúc này, và nếu có, cũng chẳng ai có thể giúp tôi thoát khỏi bóng đêm triền miên đang vây quanh và siết chặt lấy tôi. Tôi chỉ có thể tự xoa dịu nỗi đau của mình mỗi khi tôi gào khóc thật to, cảm giác vở toang lồng ngực để phá vỡ một cái gì đó đang ứ nghẹn trong lòng.
Thời gian cứ chầm chậm trôi, tôi dần nhận ra rằng làm việc là điều có thể giúp tôi xoa dịu vết thương. Sự nghiệp trượt băng là cả một tương lai đang chờ tôi phía trước. Môn trượt băng nghệ thuật chính là niềm đam mê và là sợi dây gắn kết tình yêu của hai chúng tôi, giờ đây có thể nó sẽ là chiếc giá đỡ để giúp tôi đứng dậy. Tôi sẽ sống cùng nó với tất cả tình yêu và tâm huyết, tôi sẽ sống cho cả phần của Sergei, bởi ước mơ của anh vẫn còn dang dở. Thế là tôi nghĩ đến một buổi biểu diễn trượt băng nghệ thuật để tưởng niệm Sergei với sự góp mặt của những người bạn thân. Thật khó khăn khi tôi phải biểu diễn trước mọi người mà không có Sergei sóng đôi. Tôi sẽ phải một mình đối diện với những ký ức đau buồn trên sân băng và phải cố gắng lấp đầy cái sân khấu mênh mông ấy khi không có anh. Đó là những gì tôi cần phải làm. Tôi sẽ chẳng trượt cùng với một ai khác. Đôi tay của Sergei là đôi tay duy nhất dìu tôi trên sân băng từ khi tôi mười một tuổi và sau này vẫn vậy.
Đêm diễn thiêng liêng ấy đã đến. Tôi hồi hộp chờ đợi sau tấm màn, lo sợ rằng mình sẽ bật khóc và không giữ được bình tĩnh. Khi nghe những giai điệu của bài Sonate Ánh Trăng quen thuộc, quá nhiều kỷ niệm tràn về. Tôi thấy mình đang thực hiện những động tác của bài múa tự do năm nào tại Thế vận hội Olympic năm 1994 ở Lillehammer. Sergei đang diễn cùng tôi, anh tung tôi ra xa… cả hai cùng xoay người… cả hai lướt chéo qua nhau… Tất cả cùng ùa về thật sống động, cứ như chỉ mới xảy ra ngày hôm qua. Tôi cảm nhận rõ linh hồn của Sergei đang ở đâu đây, ngay bên tôi lúc ấy.
Lúc trước, mỗi khi đến lượt biểu diễn của mình, Sergei và tôi luôn tay trong tay cùng tiến ra sân băng. Giờ đây, cảm giác một mình phải thực hiện tất cả thật kinh khủng.
Đèn bật sáng choang, mọi người vỗ tay chào đón, một cảm giác thật lạ dâng trong lòng tôi. Tôi đã lo lắng biết bao vì sợ mình sẽ bị chìm khuất và rằng sẽ không ai nhìn thấy cũng như ủng hộ tôi vì tôi quá nhỏ bé. Nhưng thật lạ, ngay lúc ấy tôi cảm thấy mình to lớn, mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Tôi phải làm điều gì đó cho Sergei và cho chính tối. Tôi lắng nghe Sergei, tôi lắng nghe nhũng gì anh đang mách bảo. Điều đó khiến sức mạnh trong tôi được nhân đôi. Từ ngày Sergei ra đi, chưa bao giờ tôi cảm thấy tài năng trong mình trào dâng mãnh liệt đến thế và chưa bao giờ tôi cảm thấy mình tràn đầy sức sống đến như vậy.
Bài biểu diễn của tôi thật sự thành công. Sau bài múa, tôi muốn nói đôi lời với mọi người, với những người đã luôn ủng hộ tôi. Thế nhưng khi cầm mic-rô trên tay, bao nhiêu ngôn từ đều biến mất. Tôi chỉ có thể nói những điều vô cùng giản dị từ sâu thẳm con tim mình: “Tôi không biết nói thế nào để diễn đạt hết suy nghĩ của mình, nhưng tôi chỉ muốn cầu chúc tất cả các bạn: Hãy cố tìm lấy hạnh phúc trong từng ngày. Hãy mỉm cười với nhau ít nhất một lần trong ngày. Hãy nói với nhau, dù chỉ một câu, rằng bạn yêu quý những người thân yêu của mình biết chừng nào. Đừng ngại ngùng, hãy nói rằng bạn yêu họ!”.
Đó là những gì tôi đã học được từ cuộc sống của mình, với Sergei của tôi.

(Việt Hòa dịch theo Internet)
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $19,424
Posts: 7280
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Previous

Return to Truyện Ðọc



Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 3 guests