Điển Tích

Điển tích văn học và lời hay ý đẹp

Moderators: littlehoney999, A Mít

Điển Tích

Postby bevanng » 07 Apr 2022

Image


Hứa Tuấn - Liễu Chương Đài


Tình Sử

Kim Vân Kiều
Khi về hỏi Liễu Chương Đài,
Cành xuân đã bẻ cho người chuyền tay,

Thị Kính
Xanh xanh khóm liễu Chương Đài,
Tiếc thay đã để cho ai vin cành,

Thị Kính
Châu rơi có lẽ phục hoàn.
Cùng mong Liễu lại tay Hàn mai nay,


Về đời Đường có một người danh sĩ, tên là Hàn Hoành, tính người điềm đạm, từ khi còn nhỏ, đã tự phụ là một bậc tài hoa. Năm Thiên Bảo, thi đỗ Tiến sỹ, song vẫn ở vào cảnh bần hàn, thực là vách nửa soi trăng, nhà tranh treo khánh.
May được một ông láng giềng là Lý Tướng Quân, khi nào có rượu ngon, cũng mời sang uống. Hàn cho Lý Tướng Quân là một người hào phóng, nên coi như bạn thân, và năng đi lại chuyện trò.
Lý Tướng Quân có một nàng hầu, họ Liễu, vốn là danh kỹ một thời. Người hầu ấy, ngày thường hé vách nhìn Hàn Hoành xem chiều ăn ở, thấy chàng tuy nhà tranh vách nát, mà tính hay đãi khách, hễ thấy khách đến thì cố ý mời chào.
Nhân khi thanh vắng, Liễu thị nói với Lý tướng quân rằng:
- Hàn Hoành là một bậc danh sĩ, dẫu rằng cùng quẫn, song bạn bè toàn là những bậc tài danh, có lẽ nào nghèo khổ mãi. Tướng quân nên giúp đỡ người ta.
Lý tướng quân nghe qua mà chẳng đáp.
Một hôm, Lý tướng quân làm tiệc rượu thật lớn, mời Hàn Hoành đến dự. Lúc rượu xong, mới bảo Hàn Hoành rằng:
- Tiên sinh vốn là danh sĩ, mà Liễu thị cũng là danh sắc; danh sĩ cùng với danh sắc sánh vai, thì thực vừa đôi phải lứa.
Rồi bắt Liễu thị ra tiếp rượu Hàn.
Hàn e e thẹn thẹn, cố từ chẳng dám đương.
Lý tướng quân bèn nói:
- Kẻ trượng phu ở bên chén rượu gặp nhau, đã một lời tâm phúc, thì chết cũng chẳng quản gì, phương chi một người đàn bà, đủ chi từ chối.
Hàn không thể đừng được, đành phải vâng lời.
Lý tướng quân lại nói:
- Tiên sinh cam chịu cảnh nghèo hèn thì phấn chấn làm sao được. Liễu thị có vài trăm vạn, cũng có thể tựa nương.
Rồi quay lại bảo Liễu thị rằng:
- Nàng là người giỏi giang, phải thờ chồng cho hết đạo.
Hàn lúc ấy phân vân trong dạ, song Liễu thị nét mặt vui vẻ mà bảo rằng:
- Lý tướng quân là người hào dật, hôm qua đã bảo với thiếp rồi, chàng chớ nên nghi ngại.
Hàn bèn cùng Liễu thị ra về.
Hai năm sau, có quan Tiết độ ở Phan thành, tên là Hi Dật, tâu cho Hàn làm viên ngoại. Lúc ấy Triều đình lắm việc, Hàn không dám cho vợ đi theo, phải tạm để ở Đô hạ ít lâu.
Khi kỳ hẹn đã qua, Hàn không thấy vợ đến. Hơn ba năm nữa cũng chẳng gặp nhau. Một hôm, Hàu lấy vàng lụa bỏ vào trong một cái hòm, đề một bài thơ gửi về cho vợ.

Thơ rằng:
Đài chương kia, cây liễu ấy,
Trước xanh nay có còn nguyên vậy?
Tơ dài phỏng vẫn rủ như xưa,
Hẳn chịu tay người đà bẻ gẫy.

Nguyên tác

Chương đài liễu, Chương đài liễu,
Tích nhật thanh thanh kim tại phủ
Túng sử trường điều tự cựu thùy,
Dã ưng phan chiết tha nhân thả.

章臺柳章臺柳
普曰青青冬. 在否
縱使長傣以舊基
也鹿舉折他人子

Khi Liễu thị nhận được, chưa tiện đi ngay, cho nên cũng đáp lại bằng một bài thơ:
Cành liễu này tươi tốt đấy,
Tặng biệt năm năm buồn biết mấy!
Chiếc lá vàng bay chợt báo thu,
Chàng dẫu có về khôn bẻ lấy.

Nguyên tác:

Dương liễu chi, phân phi tiết,
Khả hận niên niên tặng ly biệt,
Nhất diệp tùy phong hốt báo thu,
Túng sử quân lai khởi kham chiết.

楊 柳 枝 - 答 韓 員 外
楊 柳 枝,芳 菲 節,
所 恨 年 年 贈 離 別。
- 葉 隨 風 忽 報 秋,
縱 使 君 來 豈 堪 折。


Liễu thị nghĩ mình nhan sắc, mà ở một mình, sợ cũng khó lòng giữ nỗi, rắp toan cắt tóc ở chùa.
Khi Hàn theo Hi Dật vào chầu, có ý dò la thăm hỏi để tìm Liễu thị, nhưng mà tăm cá bóng chim. Mãi sau mới biết rằng nàng đã bị tướng Phiên là Sa Trá Lỵ bắt làm thiếp.
Một hôm, Hàn đi vào các Trung Thư, đến góc thành phía đông nam, chợt gặp một cái xe đi qua, nghe có tiếng người ở trong xe hỏi rằng:
- Có phải Hàn viên ngoại ở Thanh châu đấy không?
Hàn đáp:
- Phải.
Người trong xe mở màn ra trông Hàn, sụt sùi mà nói:
- Thiếp là Liễu thị, đã mắc vòng Sa Trá Lỵ bấy lâu, tự biết cá chậu chim lồng, khôn đường thoát khỏi. Nếu chàng nghĩ tình xưa nghĩa cũ, thì ngày mai xin cứ đường này đón thiếp để cho thiếp gửi lại một lời.
Hàn về nhà rất đỗi ngậm ngùi. Hôm sau y hẹn đến đón. Vụt thấy một chiếc xe đi qua, bên trong ném ra một gói, mở ra xem thì là một hộp nước hoa, ngoài bọc khăn điều, Liễu thị thấy Hàn, nước mắt như mưa, chỉ nói được một câu rằng:
- Chàng ơi, cách tuyệt từ đây, còn mong bao giờ gặp mặt.
Hàn chưa kịp đáp, thì ‘một xe trong cõi hồng trần như bay’, mắt với trông theo, hai hàng lệ ứa.
Cách ít lâu thì Lâm truy đại hội, bạn bè Hàn đặt tiệc tại cao lâu, có viết thiếp mời. Hàn y hẹn đến, song trong lòng thương cảm, sắc mặt không vui.
Khi uống rượu, người trong tiệc đều hỏi rằng:
- Hàn viên ngoại vốn cười nói phong lưu, lức nào cũng vui vẻ, nay sao dường có dáng lo buồn?
Hàn mới đem hết chân tình giãi tỏ.
Lúc ấy có Ngu hầu Hứa Tuấn, người còn trẻ tuổi, khí phách hào hùng, bỏ chén rượu xuống mà hỏi rằng:
- Tuấn nay nghĩa liệt là lòng, ngay giữa đường gặp việc bất bình cũng còn giúp đỡ. Nếu Hàn viên ngoại viết cho mấy chữ, thì châu kia Hợp phố sẽ đem về.
Nhân Hứa Tuấn nói thế, mọi người cũng đều đồng thanh khuyến khích.
Hứa Tuấn giục Hàn viết thư, rồi đóng đồ cho ngựa, lại dắt thêm một con ngựa nữa theo sau, mà đi tắt lại nhà Sa Trá Lỵ.
Khi đến, thì vừa lúc Sa Trá Lỵ đi chơi vắng, Hứa Tuấn bèn bảo người canh cửa rằng:
- Sa tướng quân ngã ngựa, cho tôi đem ngựa về đón Liễu phu nhân.
Liễu thị sợ chạy ra. Hứa Tuấn đưa thư của Hàn làm tin, rồi cắp Liễu thị lên yên, vượt đường tắt mà về.
Tiệc rượu chưa tan, mà Hứa Tuấn đã đem Liễu thị đến bảo Hàn rằng:
- May không nhục mạng.
Lúc bấy giờ Sa Trá Lỵ có công, vua Đại Tôn rất yêu đương và hậu đãi. Những người ở đấy sợ thành cháy vạ lây, dắt nhau đến nói cùng Hi Dật.
Hi Dật nghe nói, vểnh râu dài cổ, cả giận mà rằng:
- Những việc bất bình như thế trước kia ta đã thường làm, ai ngờ Hứa Tuấn mà cũng có những cử chỉ đó.
Bèn lập tức dâng biểu hạch tội Sa Trá Lỵ đã hiếp đoạt vợ người, mà Hứa Tuấn là chàng nghĩa hiệp.
Vua Đại Tôn tấm tắc ngợi khen, ngự bút châu phê rằng:
- Cho Sa Trá Lỵ lụa tấm hai ngàn, mà Liễu thị, cho về với Hàn Hoành.
Last edited by bevanng on 08 Apr 2022, edited 2 times in total.
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,468
Posts: 13687
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Hứa Tuấn - Liễu Chương Đài

Postby bevanng » 07 Apr 2022

Vu Liên Súy – Khách qua đường


Tình Sử

Kim Vân Kiều

Có điều chi nữa mà ngờ,
Khách qua đường để hửng hờ chàng Tiêu.

Hoa Tiên

Vả nơi rốn bể cửa hầu,
Ra vào vì nỗi thẳm sâu ngại ngùng.


Ở Hán thượng có một người tên gọi Thôi Giao, thi đỗ tú tài, văn chương uẩn tạ, song nhà rất nghèo nàn. Một người cô Thôi Giao cũng rất nghèo, có nuôi được một người tỳ, vốn là mỹ nhân ở Hán nam, lại giỏi cả thơ từ ca hát.
Thôi Giao yêu mến nàng vô cùng.
Sau vì quẫn bách quá, nên người cô phải bán nàng cho Vu Liên Súy lấy bốn mươi vạn quan tiền.
Khi nàng về hầu Liên Súy, được Liên Súy rất mực yêu đương và hay được thưởng hậu lắm. Còn Thôi Giao đêm ngày nhớ tưởng khôn khuây, biếng ăn quên ngủ, đến nỗi thành bệnh. Nhiều khi phải gượng ra đứng trước cửa phủ Liên Súy để hòng được trông thấy mặt nàng.
Một hôm, nàng nhân tiết Hàn thực đi chơi, gặp Thôi Giao ở dưới khóm cây dương liễu. Trong khi hai người được thấy mặt nhau, nước mắt như mưa, nghĩa cũ tình xưa, nói lại nói mà lời khôn hết.
Lúc nàng về, Thôi Giao tặng biệt một bài thơ rằng:

Người theo gót ngọc bụi bay vàng,
Kẻ ướt khăn là lệ chứa chan.
Vào cửa hầu kia sâu tựa bể,
Chàng Tiêu rày cũng khách qua đường.

Hay:

Vương tôn theo mãi bụi trần gian,
Khăn lụa Lục Châu thấm lệ tràn.
Cửa quan đã vướng sâu tựa bể,
Chàng Tiêu nay làm khách qua đàng.

Nguyên tác:

Công tử vương tôn trục hậu trần,
Lục Châu thùy lệ thấp la cân.
Hầu môn nhất nhập thâm như hải,
Tùng thử Tiêu lang thị lộ nhân.

贈 婢

公 子 王 孫 逐 後 塵,
綠 珠 垂 淚 滴 羅 巾。
侯 門 一 入 深 似 海,
從 此 蕭 郎 是 路 人。


Có kẻ ghét Thôi Giao đem bài thơ ấy đề vào vách phủ. Liên Súy đi qua đó, trông thấy thơ, ngâm đọc mấy lượt, bèn sai lính đòi Thôi Giao. Lúc ấy tả hữu chẳng ai hiểu ý thế nào.
Thôi Giao vừa lo vừa hối, không biết trốn đi đâu, bất đắc dĩ phải vào hầu, cúi đầu quỳ lạy.
Liên Súy cầm tay đỡ dậy mà rằng:

- Vào cửa hầu kia sâu tựa bể,
Chàng Tiêu rày cũng khách qua đường.


Câu thơ ấy có phải nhà thày làm không? Bốn mươi vạn quan tiền có là bao? Tiếc gì một bức thư, mà thày không nói trước.
Bèn cho nàng lấy thêm đồ tư trang, ăn mặc rất đẹp để về với Thôi Giao.
Từ đấy Thôi Giao trở nên giàu có.

Sau lại có người khách ở Linh lăng đến mách Liên Súy rằng: Nhung Lạp Sứ quân có một danh ca, hát rất hay, mà người rất đẹp. Liên Súy bèn cho giấy đến đòi.
Nhung Lạp Sứ quân không dám trái lời, phải cho người danh ca ấy đi, hơn một tháng trời mới đến.
Khi Liên Súy bắt hát, thì người danh ca hát ngay bài của Nhung Lạp Sứ quân tặng biệt.

Đã sửa quần thoa lại vẽ mày,
Vẽ rồi lệ ứa muốn làm mây.
Khuyên ai chiều ý Trương Vương đó,
Chớ tưởng đài Dương giấc mộng say.

Nguyên tác:

Bảo điến hương nga phỉ thúy quần,
Trang thành yểm khắp dục hành vân.
Ân cần hảo thủ Trương Vương ý,
Mạc hướng Dương đài mộng Sứ quân.

霄鈿香峨翡翠梯
桩成掩泣欲行雲
悤勉好肊襄王意
莫向裼鲞夢使君


Liên Súy nghe hát, liền hối mà nói rằng:
- Đại trượng phu đã chẳng hay dựng nghiệp lớn, để danh tiếng về sau, lại cướp vợ yêu của kẻ khác để vui thú lấy một mình, thật là không phải đạo.
Liên Súy bèn lấy vàng lựa tặng người danh ca, rồi cho về với Sứ quân. Lại tự tay viết thư đến Sử quân để tạ lỗi.

Lời ghi thêm:

Tỳ thường là tớ gái. Cũng có nghĩa là nàng hầu, để nâng khăn sửa túi cho chủ nhân, kém thiếp tức vợ lẽ. Các nhà quyền quý hay có những người tỳ, gọi là chị.
Lục Châu là hầu yêu của Thạch Sùng, có nhan sắc tuyệt thế. Trong bài thơ, Thôi Giao đã mượn tên ấy để ám chỉ nàng tỳ.
Tiêu lang, dịch nôm là chàng Tiêu, không phải là Tiêu Sử đời Chiến quốc, vì thổi sáo hay,mà lấy được Lộng Ngọc, con gái Tần Mục Công. Đó là một chữ phiếm xưng, có nghĩa là anh khóa, cũng như chữ Tiêu nương có nghĩa là cô ả vậy.
Thơ của Dương Cự Nguyên đời Đường vịnh Thôi Oanh Oanh có câu:
Phong lưu tài tử đa xuân tứ
Trường đoạn Tiêu nương nhất chỉ thư.
Nghĩa là những người tài tử phong lưu, có tứ thưởng xuân, tức yêu hoa, thì đều đứt ruột vì một bức thư của Tiêu nương, của cô ả, tức Thôi Oanh Oanh.
Khi Thôi Giao thương nhớ một người tỳ đã ở một nơi quyền quí, thì đâu dám gọi rõ lên nàng, đâu dám tự xưng tên mình. Lẽ tất nhiên phải mượn tên một mỹ nhân để chỉ nàng tỳ, và lấy danh từ phiếm xưng để tự chỉ mình.
Phép làm thơ như thế gọi là giả danh thác từ, nghĩa là mượn người mà ví, mượn lời mà nói.
Nhiều thi sĩ hay nhắc tới câu thơ thứ ba thứ tư của Thôi Giao, để nói người nhan sắc, vào ở nơi quyền quý, xa cách chốn nhân gian, hoặc có vẽ hững hờ với tri âm cũ.
Truyện Vu Liên Súy dịch trên, là trích ở sách Tình sử về loại Tình hiệp. Trong sách Hán thư cũng chép rằng: Thôi Giao có người tỳ bán cho Liên Súy.
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,468
Posts: 13687
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Điển Tích

Postby bevanng » 08 Apr 2022

BỐ KÌNH


Bố kình, cũng đọc bố kinh. Bố là vải, Kinh là gai, do câu “Bố quần kinh thoa” (mặc quần áo bằng bô vải, cài trâm bằng gai).
Trong hàng nghìn năm, Mạnh Quang đã được coi là mẫu mực của đức tính thiện lương; một người phụ nữ có vẻ ngoài giản dị nhưng có đạo đức cao cả.
Trong thời Hậu Hán (947-950 sau Công nguyên), sống ở quận Bình Lăng, một học giả uyên bác và có năng lực được gọi là Lương Hồng, hiệu là Bá Loan. Lương Hồng là một người đàn ông chấp nhận sự nghèo khó và xa lánh dấn thân vào quan trường, và cả làng xóm của mình đều rất mực ngưỡng mộ. Nhiều gia đình trong hạt thường đề nghị gả con gái nhưng ông đều từ chối lời cầu hôn của họ.
Chuyện xảy ra là trong cùng một huyện, có một cô gái tên là Mạnh Quang, hiệu là Đức Diệu. Con gái của một thôn trưởng khá giả, Mạnh Quang là một cô gái bình dị, không có nhan sắc nhưng sức vóc hiếm có. Tuy nhiên, cô ấy lại có những ý tưởng nghiêm khắc về tiêu chuẩn chọn lựa người chồng tương lai. Do đó, ở tuổi ba mươi, cô vẫn không muốn giao trái tim mình cho ai. Câu trả lời của cô rất đơn giản: “Con muốn kết hôn với một người đàn ông như Lương Hồng mà thôi.” Cô trả lời như thế khi bị cha mẹ hỏi.
Khi tin tức về việc này đến tai Lương Hồng, ông trả lời: “Thôi được, để cô ấy lấy mình vậy!”
Thế rồi diễn ra lễ cưới và Mạnh Quang đã về nhà chồng trong bộ quần áo tráng lệ nhất của cô. Trong bảy ngày bảy đêm, anh chồng không hề tỏ ra quan tâm đến cô dâu mới của mình. Không còn chịu đựng được sự thờ ơ của anh ta, Mạnh Quang quỳ xuống trước anh ta và hỏi: “Thiếp nghe nói chàng là người có phẩm hạnh, đáng lẽ đã lấy vợ từ lâu. Ừm, thiếp cũng thế thôi. Bây giờ chàng giờ đây cưới thiếp rồi, xin hãy cho thiếp biết thiếp đã làm gì mà để phật lòng chàng.”
Lương Hồng đáp: “Bộ quần áo đắt tiền và lớp trang điểm đậm đà của nàng làm ta kinh tởm! Người phụ nữ duy nhất mà ta sẵn sàng chia sẻ cuộc đời mình với sẽ là người chỉ cài một chiếc kẹp tóc bằng cỏ gai và mặc một chiếc váy vải thường mà thôi!”
Lúc đó Mạnh Quang mới hiểu ra mọi chuyện. Rồi cô ấy thay mặc một chiếc váy vải sô, bỏ đi lớp trang điểm, buộc tóc bằng cỏ gai và làm các công việc tay chân lao lực bình dị. Lúc đó chồng cô mới hài lòng. Một thời gian sau, hai vợ chồng đến sống ở vùng núi Bác Lăng.
Họ đã trải qua những ngày tháng trồng trọt, chơi nhạc, ca hát và học tập. Sau đó, họ đi khắp nơi trong nước, kiếm kế sinh nhai ở bất cứ nơi đâu. Trong thời gian này, Lương Hồng làm nghề tuốt lúa. Mỗi buổi tối, khi trở về nhà, Mạnh Quang đều đặt thức ăn cô đã chuẩn bị lên một cái khay. Sau đó, nàng sẽ dâng mâm cỗ này cho chàng bằng cách nâng nó lên ngang với lông chân mày để bày tỏ tình yêu và lòng kính trọng sâu đậm của nàng đối với người chồng. (Mạnh Quang cử án tề mi)
Về sau, cặp vợ chồng được chủ gia thay đổi cách đối xử khi khâm phục cung cách Mạnh Quang đối xử với chồng, nhờ đó ông nhận ra Lương Hồng là người tài cao, học rộng, nhưng thích ẩn mình. Với sự giúp đỡ nhiệt tình của chủ gia, gia đình sung túc hơn, Lương Hồng không còn phải làm lụng vất vả nữa và tập trung vào việc viết sách, kết quả để lại nhiều tác phẩm văn học có giá trị cho người đời sâu sắc.
Cho đến ngày nay, cụm từ “nâng mâm cao cỗ đầy” được dùng để chỉ các cặp vợ chồng đối xử với nhau bằng tình yêu thương và sự tôn trọng. Cho nên chữ Bố Kình có ý nói người vợ hiền từ chính đính, xử sự kính thuận với chồng. Truyện Kiều có câu:
“Đã cho vào bực bố kình,
Đạo tùng phu lấy chữ trinh làm đầu”.

Câu “phụ nghĩa bố kình” ở đây chỉ cho người người đời nay, giữa chồng vợ cư xử với nhau ít người được nghĩa ân chung thủy, thường phụ rãy với nhau.
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,468
Posts: 13687
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Điển Tích

Postby bevanng » 08 Apr 2022

Dương Tố - Gương vở

Tình Sử

Kim Vân Kiều

Bây giờ gương vỡ lại lành
Khôn thiêng lừa lọc đã dành có nơi.


Hoa Tiên

Mãnh gương ai bẻ làm đôi
Biết đâu mà được giải bầy duyên do.


Lạc Xương Công chúa là em vua Trần Hậu Chúa Thúc Bảo, và là vợ Từ Đức Ngôn, làm chức Sá nhân của Đông Cung nhà Trần. Bà là một thiếu phụ thơ từ nức tiếng, tài sắc hơn người.
Gặp lúc nhà Trần bị nhà Tùy đánh, Từ Đức Ngôn tự nghĩ vợ chồng khó được trọn vẹn cùng nhau, bèn bảo vợ rằng:
- Tài sắc dường ấy, hễ nước mất, Công chúa hẳn lọt vào tay nhà quyền hào, còn mong gì sum họp với nhau được nữa. Nhưng nếu chưa dứt hẳn mối tình và còn mong thấy mặt nhau, tất phải có vật gì làm tin.
Chàng bèn đập một cái gương ra làm hai, mỗi người giữ một mảnh, rồi hẹn rằng:
- Về sau, cứ nhớ ngày rằm tháng giêng, đem mảnh gương ra bán ở chợ Kinh đô. Nếu ta có đấy, thì sẽ tìm gặp nhau được.
Đến khi nhà Trần mất nước (dương lịch 589) Lạc Xương Công chúa quả vào tay danh tướng nhà Tùy là Việt Công Dương Tố. Bà được yêu mến lạ thường, đãi đằng rất hậu.
Còn Đức Ngôn thì lưu lạc gian nan, trăm phần cay đắng; sau trải bao sương tuyết mới đến được kinh đô. Chàng y hẹn ngày rằm tháng giêng ra chợ để dò la thăm hỏi. Chợt thấy một người ăn mặc ra dáng đầy tớ, đem bán một mảnh gương nói giá thật cao, cả chợ cho là xuẩn. Đức Ngôn mời người ấy đến một nơi, cơm rượu đãi xong, kể hết chân tình, rồi đem mảnh gương của mình ra ghép lại với mảnh kia, thấy liền nhau như một. Bèn nhờ người ấy đưa hộ một bài thơ về:

Gương với người đều vắng,
Thấy gương chẳng thấy người.
Chị Hằng còn lánh mặt,
Chỉ có bóng trăng soi.


Nguyên tác:

Chiếu dữ nhân câu khứ,
Chiếu quy nhân bắt quy.
Vô phục Hằng Nga ảnh,
Không lưu minh nguyệt huy.


照 與 人 俱 去
照 歸 人 不 歸
無 復 抛 减 影
空 贸 明 月 輝


Công chúa được thư thì giọt lệ chứa chan, mùi ăn chẳng cảm. Dương Tố biết ý thương tình, mời Đức Ngôn đến, hậu tặng cho lụa vàng và nói rõ muốn đem Công chúa trả lại cho. Ai nghe thấy thế cũng đều thán phục.
Một hôm, Dương Tố mở tiệc, cùng ngồi uống rượu với Công chúa và Đức Ngôn. Nhân ép Công chúa làm thơ, thì bà liền ứng khẩu đọc lên một bài:

Ngày nay sao dời đổi,
Người mới lại người xưa;
Khóc dở thêm cười dở,
Việc đời đã khó chưa.


Nguyên tác:

Kim nhật hà thiên thứ
Tán quan đới cựu quan
Tiếu đề câu bất cảm
Phương nghiệm tố nhân nan.


个 日 何 連 次
新 官 對 舊 官
笑 啼 傳 不 敢
方 驗 做 人 靡


Dương Tố bèn cho Công chúa về Giang Nam cùng với Đức Ngôn giai lão.
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,468
Posts: 13687
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Điển Tích

Postby bevanng » 08 Apr 2022

Vân Anh - Cầu Lam

Tình Sử

Kim Vân Kiều

Chầy sương chưa nện cầu Lam
Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng.


Thị Kính

Mảng nghe họ Mãng gần miền
Lam kiều là chốn thần tiên có người.


Phan Trần

Chốn Lam kiều cách nước mây
Bùi Hàng chưa dễ biết đây chốn nào.

Năm Trường Khánh triều Mục Tôn đời Đường (Dương lịch 821-825) có một người tú sĩ tên là Bùi Hàng, bị hỏng thi, đi chơi Ngạc Chử thăm bạn cũ. Khi về, được bạn tặng nhiều tiền, thuê thuyền tiện thể đi Tương Hán và Ngọc Kinh. Cùng thuyền ấy, cũng đi Tương Hán, có Phàn phu nhân và một thị tỳ là Đảo Yên theo hầu.
Bùi Hàng thấy phu nhân có sắc khuynh thành, ý muốn thân cận, nhưng không có kế gì. Sau làm thơ để dò ý, rồi cho tiền người thị tỳ đưa hộ.

Thơ rằng:

Kẻ Hồ người Việt còn thương nhớ
Huống cách người tiên chỉ bức mành
Ví được Ngọc kinh cùng nối gót
Xin theo loan hạc đến mây xanh.


Nguyên tác:

Đồng vi Hồ Việt do hoài tưởng
Huống ngộ thiên tiên cách cẩm bình
Thảng nhược Ngọc kinh triều hội khứ
Nguyện tùy loan hạc nhập thanh vân.


同 爲 胡 超 猶 懷 想
兄 遇 天 仙 隔 綿 鼻
條 苦 立 京 朝 會 去
颇 隨 覺 鶴 入 音 當


Thơ đưa rồi mà đợi mãi không thấy trả lời. Bùi Hàng lại hỏi người thị tỳ, thì nàng nói:
- Nương tử có xem thơ, nhưng ra vẻ không muốn nghe, thì làm thế nào?
Bùi Hàng bèn ra chợ mua những rượu ngon, quả quý, đem về biếu. Phu nhân thấy vậy, sai thị tỳ mời chàng lại chơi. Đến gần, thấy phu nhân rất đẹp, mặt ngọc da ngà, môi son má phấn, mắt phượng mày ngài, mà cách nói năng cử chỉ, thật là người tiên, chắc rằng không bao giờ chịu kết duyên với người phàm, chàng bèn vái mà hỏi:
- Nương tử cho gọi có việc gì?
Nàng nói:
- Phu quân tôi nay ở Hán nam, định từ quan về ẩn chốn sơn lâm, nên gọi tôi về để bàn định. Nay lại cùng đi một thuyền với chàng, dẫu có ai sơ xuất điều gì, tôi cũng không để ý.
Nói rồi liền rót rượu mời uống.
Bùi Hàng uống xong, từ lui ra.
Sau phu nhân lại gửi cho một bài thơ.

Thơ rằng:

Một chén quỳnh tương dễ cảm tình
Chày sương giã thuốc gặp Vân Anh
Lam kiều là chốn thần tiên đấy
Len lỏi làm chi đất Ngọc kinh.


Nguyên tác:

Nhất ẩm quỳnh tương bách cảm sinh
Huyền sương đảo tận kiến Vân Anh
Lam kiều tự hữu thần tiên quật
Hà tất khi khu thượng Ngọc kinh.


一 饮 琼 浆 百 感 生
玄 霜 捣 尽 见 云 英
蓝 桥 便 是 神 仙 窟
何 必 崎 岖 上 玉 青


Bùi Hàng xem thơ không hiểu ý.
Khi thuyền đến Tương hán mọi người đều lên cả. Bùi Hàng muốn tìm phu nhân để chào, thì chẳng thấy đâu, mà cũng không biết phu nhân đi lối nào. Chàng bèn thu xếp hành trang rồi thuê xe ngựa đi Ngọc kinh.
Lúc đến trạm Lam kiều thì khát nước lắm, phải xuống xe đi tìm nước uống. Chợt thấy ở bên đường có mấy nóc nhà tranh, gặp được một bà lão đang dệt vải gai, Bùi Hàng bèn vào xin nước. Một bà cụ gọi Vân Anh đi lấy nước. Lúc bấy giờ chàng mới nghĩ ra câu thơ của Phu nhân có chữ Vân Anh, nhưng vẫn chưa hiểu rõ ra sao. Sau thấy trong rèm đưa ra một bình nước, chàng tiếp lấy uống, thấy mùi hương thơm nức, thực là một thứ nước quý. Nhân lúc đưa trả bình, chàng nhìn rõ được người con gái, mới biết là một trang nghiêng nước nghiêng thành, trần gian chưa thấy ai đẹp thế. Chàng như bị hồn xiêu phách tán, không muốn bước chân ra đi; bèn nói với bà cụ rằng:
- Vì đường xa dặm thẳng, đầy tớ và ngựa đều có vẻ mệt cả; vậy xin cụ cho lưu trú lại đây ít lâu để nghỉ ngơi ăn uống, liệu có được không?
Bà cụ đáp:
- Xin tùy ý.
Bấy giờ mới cho người nhà và ngựa ăn uống. Sau chàng lại nói với bà cụ rằng:
- Không dám giấu cụ, tôi trông thấy nương tử đây, rất đem lòng yêu mến, cho nên trù trừ không thể ra đi được. Tôi xin nộp hậu lễ để xin làm rể cụ.
Bà cụ đáp:
- Tôi nay đã già, chỉ có một người cháu gái ấy thôi. Trước kia tiên có cho tôi một thứ thuốc, và bảo rằng phải có cái chày bằng ngọc, giã đủ trăm ngày, thì mới uống được và mới trường thọ. Tôi định hễ ai hỏi cháu, phải có cái chày bằng ngọc ấy, tôi mới gả, còn vàng bạc châu báu thì tôi chả lấy làm gì.
Bùi Hàng tạ mà nói:
- Vậy tôi xin cụ một hạn đủ trăm ngày sẽ đưa vật ấy đến, còn trong hạn ấy xin cụ đừng gả cho người khác.
Bà cụ nói:
- Xin vâng.
Bùi Hàng lập tức đi ngay.
Khi đến kinh, khòng còn nghĩ đến việc gì, chỉ ngày ngày đi rong các phố vừa tìm vừa rao to lên xem ai có chày ngọc bán, nhưng mãi cũng chẳng thấy gì. Thường khi gặp bạn thì ngoảnh mặt làm thinh, ai cũng cho là người điên dại. Cứ đi rao như thế đã được hai ba tháng, chợt một hôm có một ông già bán ngọc đến mách rằng:
- Tại Quắc châu, phố hàng thuốc, có nhà muốn bán một cái chày ngọc. Nếu ông cần mua, tôi sẽ viết thư giới thiệu, nhưng tất phải hai trăm lạng người ta mới bán.
Bùi Hàng phải đem bán cả đồ đạc mới đủ số tiền ấy.
Sau, quả mua được chày ngọc, đem về Lam kiều đưa cho bà cụ. Bà cụ cười mà nói rằng:
- Thế thì chàng là một người chí thành và chịu khó, có lẽ nào tôi tiếc một người cháu gái mà không cho chàng để đền công khó nhọc.
Người con gái cũng mỉm cười mà nói rằng:
- Đã đành thế, nhưng phải giã thuốc đủ một trăm ngày mới được thành thân,
Bà cụ nghe nói liền đem thuốc ra. Thế là Bùi Hàng phải giã thuốc suốt ngày, cứ đến tối lại nghỉ và đưa thuốc cho bà cụ cất đi. Song có khi đêm cũng nghe thấy tiếng chày. Dòm vào nơi có tiếng chày ấy, thì thấy một con ngọc thố (thỏ ngọc) cũng đang giã thuốc. Thấy thế, Bùi Hàng lại càng kiên tâm, chăm chỉ hơn.
Đúng hạn trăm ngày, bà cụ lấy thuốc uống ngay, rồi bảo:
- Bây giờ tôi cùng cháu gái vào động để nói với họ hàng về việc hôn nhân của chàng. Vậy cứ đợi đây, rồi sẽ có xe ngựa ra đón.
Đến khi Bùi Hàng vào động, thì thấy nhà cửa nguy nga chẳng khác lâu đài, rèm châu, màn gấm, đệm thúy, chăn loan, bàn ngọc, mâm ngà, đồ đạc quý báu, không biết bao nhiêu mà kể, thật là một chốn tiên cung. Các tiên đồng đưa chàng vào làm lễ, rồi ra vái bà cụ, Bà cụ nói rằng:
- Bùi lang cũng là dòng dõi Bùi chân nhân, thế thì làm rể nhà ta thực xứng đáng.
Nói rồi chỉ vào một nàng mà bảo là chị vợ.
Bùi Hàng ra cúi chào thì người ấy hỏi:
- Bùi lang có biết tôi không?
Chàng vẫn cúi mà đáp:
- Tôi lạ lùng chưa được biết.
Người ấy lại hỏi:
- Vậy thì chàng có nhớ người đi cùng thuyền về Tương Hán không?
Bùi Hàng ngẩng mặt nhìn kỹ mới nhận ra Phàn phu nhân. Hỏi những người ở đấy, mới biết phu nhân là vợ ông Vân Kiều đại nhân Lưu Cương Tiên.
Sau, bà cụ bảo cháu gái đưa chàng vào động Ngọc Phòng, cho uống những thứ thuốc gọi là Giáng Tuyết và Quỳnh Anh. Uống vào thấy tinh thần thanh sảng và cốt thể nhẹ nhàng mà thành tiên.
Đến năm Thái Hòa, một người bạn Bùi Hàng là họ Lư có gặp chàng ở gần trạm Lam Kiều.
Chàng nói chuyện cho biết đã đắc đạo, và có tặng cho người bạn mấy hạt ngọc Lam Điền với một viên thuốc linh đan. Người bạn hỏi:
- Ông có thể truyền đạo cho tôi được không?
Bùi Hàng đáp:
- Người ta có tâm hư bụng thực và có phép trường sinh bất tử thì mới truyền được. Hiện nay tôi chưa có thể nói đến chuyện đó.
Người bạn biết không thể ép được, bèn từ biệt đi về.
Từ đấy, không ai gặp Bùi Hàng ở đâu nữa.
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,468
Posts: 13687
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Điển Tích

Postby bevanng » 10 Apr 2022

Dương Tố - Gương vở

Tình Sử

Kim Vân Kiều

Bây giờ gương vỡ lại lành
Khôn thiêng lừa lọc đã dành có nơi.


Hoa Tiên

Mãnh gương ai bẻ làm đôi
Biết đâu mà được giải bầy duyên do.


Lạc Xương Công chúa là em vua Trần Hậu Chúa Thúc Bảo, và là vợ Từ Đức Ngôn, làm chức Sá nhân của Đông Cung nhà Trần. Bà là một thiếu phụ thơ từ nức tiếng, tài sắc hơn người.
Gặp lúc nhà Trần bị nhà Tùy đánh, Từ Đức Ngôn tự nghĩ vợ chồng khó được trọn vẹn cùng nhau, bèn bảo vợ rằng:
- Tài sắc dường ấy, hễ nước mất, Công chúa hẳn lọt vào tay nhà quyền hào, còn mong gì sum họp với nhau được nữa. Nhưng nếu chưa dứt hẳn mối tình và còn mong thấy mặt nhau, tất phải có vật gì làm tin.
Chàng bèn đập một cái gương ra làm hai, mỗi người giữ một mảnh, rồi hẹn rằng:
- Về sau, cứ nhớ ngày rằm tháng giêng, đem mảnh gương ra bán ở chợ Kinh đô. Nếu ta có đấy, thì sẽ tìm gặp nhau được.
Đến khi nhà Trần mất nước (dương lịch 589) Lạc Xương Công chúa quả vào tay danh tướng nhà Tùy là Việt Công Dương Tố. Bà được yêu mến lạ thường, đãi đằng rất hậu.
Còn Đức Ngôn thì lưu lạc gian nan, trăm phần cay đắng; sau trải bao sương tuyết mới đến được kinh đô. Chàng y hẹn ngày rằm tháng giêng ra chợ để dò la thăm hỏi. Chợt thấy một người ăn mặc ra dáng đầy tớ, đem bán một mảnh gương nói giá thật cao, cả chợ cho là xuẩn. Đức Ngôn mời người ấy đến một nơi, cơm rượu đãi xong, kể hết chân tình, rồi đem mảnh gương của mình ra ghép lại với mảnh kia, thấy liền nhau như một. Bèn nhờ người ấy đưa hộ một bài thơ về:

Gương với người đều vắng,
Thấy gương chẳng thấy người.
Chị Hằng còn lánh mặt,
Chỉ có bóng trăng soi.


Nguyên tác:

Chiếu dữ nhân câu khứ,
Chiếu quy nhân bắt quy.
Vô phục Hằng Nga ảnh,
Không lưu minh nguyệt huy.


照 與 人 俱 去
照 歸 人 不 歸
無 復 抛 减 影
空 贸 明 月 輝


Công chúa được thư thì giọt lệ chứa chan, mùi ăn chẳng cảm. Dương Tố biết ý thương tình, mời Đức Ngôn đến, hậu tặng cho lụa vàng và nói rõ muốn đem Công chúa trả lại cho. Ai nghe thấy thế cũng đều thán phục.
Một hôm, Dương Tố mở tiệc, cùng ngồi uống rượu với Công chúa và Đức Ngôn. Nhân ép Công chúa làm thơ, thì bà liền ứng khẩu đọc lên một bài:

Ngày nay sao dời đổi,
Người mới lại người xưa;
Khóc dở thêm cười dở,
Việc đời đã khó chưa.


Nguyên tác:

[center]Kim nhật hà thiên thứ
Tán quan đới cựu quan
Tiếu đề câu bất cảm
Phương nghiệm tố nhân nan.

个 日 何 連 次
新 官 對 舊 官
笑 啼 傳 不 敢
方 驗 做 人 靡


Dương Tố bèn cho Công chúa về Giang Nam cùng với Đức Ngôn giai lão.
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,468
Posts: 13687
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Điển Tích

Postby bevanng » 11 Apr 2022

Vân Anh - Cầu Lam

Tình Sử

Kim Vân Kiều


Chầy sương chưa nện cầu Lam
Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng.


Thị Kính


Mảng nghe họ Mãng gần miền
Lam Kiều là chốn thần tiên có người.


Phan Trần


Chốn Lam Kiều cách nước mây
Bùi Hàng chưa dễ biết đây chốn nào.


Năm Trường Khánh triều Mục Tôn đời Đường (Dương lịch 821-825) có một người tú sĩ tên là Bùi Hàng, bị hỏng thi, đi chơi Ngạc Chử thăm bạn cũ. Khi về, được bạn tặng nhiều tiền, thuê thuyền tiện thể đi Tương Hán và Ngọc Kinh. Cùng thuyền ấy, cũng đi Tương Hán, có Phàn phu nhân và một thị tỳ là Đảo Yên theo hầu.
Bùi Hàng thấy phu nhân có sắc khuynh thành, ý muốn thân cận, nhưng không có kế gì. Sau làm thơ để dò ý, rồi cho tiền người thị tỳ đưa hộ.

Thơ rằng:

Kẻ Hồ người Việt còn thương nhớ
Huống cách người tiên chỉ bức mành
Ví được Ngọc kinh cùng nối gót
Xin theo loan hạc đến mây xanh.


Nguyên tác:

Đồng vi Hồ Việt do hoài tưởng
Huống ngộ thiên tiên cách cẩm bình
Thảng nhược Ngọc kinh triều hội khứ
Nguyện tùy loan hạc nhập thanh vân.

同 爲 胡 超 猶 懷 想
兄 遇 天 仙 隔 綿 鼻
條 苦 立 京 朝 會 去
颇 隨 覺 鶴 入 音 當


Thơ đưa rồi mà đợi mãi không thấy trả lời. Bùi Hàng lại hỏi người thị tỳ, thì nàng nói:
- Nương tử có xem thơ, nhưng ra vẻ không muốn nghe, thì làm thế nào?
Bùi Hàng bèn ra chợ mua những rượu ngon, quả quý, đem về biếu. Phu nhân thấy vậy, sai thị tỳ mời chàng lại chơi. Đến gần, thấy phu nhân rất đẹp, mặt ngọc da ngà, môi son má phấn, mắt phượng mày ngài, mà cách nói năng cử chỉ, thật là người tiên, chắc rằng không bao giờ chịu kết duyên với người phàm, chàng bèn vái mà hỏi:
- Nương tử cho gọi có việc gì?
Nàng nói:
- Phu quân tôi nay ở Hán nam, định từ quan về ẩn chốn sơn lâm, nên gọi tôi về để bàn định. Nay lại cùng đi một thuyền với chàng, dẫu có ai sơ xuất điều gì, tôi cũng không để ý.
Nói rồi liền rót rượu mời uống.
Bùi Hàng uống xong, từ tạ lui ra.
Sau phu nhân lại gửi cho một bài thơ.

Thơ rằng:

Một chén quỳnh tương dễ cảm tình
Chày sương giã thuốc gặp Vân Anh
Lam Kiều là chốn thần tiên đấy
Len lỏi làm chi đất Ngọc kinh.


Nguyên tác:

Nhất ẩm quỳnh tương bách cảm sinh
Huyền sương đảo tận kiến Vân Anh
Lam Kiều tự hữu thần tiên quật
Hà tất khi khu thượng Ngọc kinh.


一 饮 琼 浆 百 感 生
玄 霜 捣 尽 见 云 英
蓝 桥 便 是 神 仙 窟
何 必 崎 岖 上 玉 青


Bùi Hàng xem thơ không hiểu ý.
Khi thuyền đến Tương Hán mọi người đều lên cả. Bùi Hàng muốn tìm phu nhân để chào, thì chẳng thấy đâu, mà cũng không biết phu nhân đi lối nào. Chàng bèn thu xếp hành trang rồi thuê xe ngựa đi Ngọc kinh.
Lúc đến trạm Lam Kiều thì khát nước lắm, phải xuống xe đi tìm nước uống. Chợt thấy ở bên đường có mấy nóc nhà tranh, gặp được một bà lão đang dệt vải gai, Bùi Hàng bèn vào xin nước. Một bà cụ gọi Vân Anh đi lấy nước. Lúc bấy giờ chàng mới nghĩ ra câu thơ của Phu nhân có chữ Vân Anh, nhưng vẫn chưa hiểu rõ ra sao. Sau thấy trong rèm đưa ra một bình nước, chàng tiếp lấy uống, thấy mùi hương thơm nức, thực là một thứ nước quý. Nhân lúc đưa trả bình, chàng nhìn rõ được người con gái, mới biết là một trang nghiêng nước nghiêng thành, trần gian chưa thấy ai đẹp thế. Chàng như bị hồn xiêu phách tán, không muốn bước chân ra đi; bèn nói với bà cụ rằng:
- Vì đường xa dặm thẳng, đầy tớ và ngựa đều có vẻ mệt cả; vậy xin cụ cho lưu trú lại đây ít lâu để nghỉ ngơi ăn uống, liệu có được không?
Bà cụ đáp:
- Xin tùy ý.
Bấy giờ mới cho người nhà và ngựa ăn uống. Sau chàng lại nói với bà cụ rằng:
- Không dám giấu cụ, tôi trông thấy nương tử đây, rất đem lòng yêu mến, cho nên trù trừ không thể ra đi được. Tôi xin nộp hậu lễ để xin làm rể cụ.
Bà cụ đáp:
- Tôi nay đã già, chỉ có một người cháu gái ấy thôi. Trước kia tiên có cho tôi một thứ thuốc, và bảo rằng phải có cái chày bằng ngọc, giã đủ trăm ngày, thì mới uống được và mới trường thọ. Tôi định hễ ai hỏi cháu, phải có cái chày bằng ngọc ấy, tôi mới gả, còn vàng bạc châu báu thì tôi chả lấy làm gì.
Bùi Hàng tạ mà nói:
- Vậy tôi xin cụ một hạn đủ trăm ngày sẽ đưa vật ấy đến, còn trong hạn ấy xin cụ đừng gả cho người khác.
Bà cụ nói:
- Xin vâng.
Bùi Hàng lập tức đi ngay.
Khi đến kinh, không còn nghĩ đến việc gì, chỉ ngày ngày đi rong các phố vừa tìm vừa rao to lên xem ai có chày ngọc bán, nhưng mãi cũng chẳng thấy gì. Thường khi gặp bạn thì ngoảnh mặt làm thinh, ai cũng cho là người điên dại. Cứ đi rao như thế đã được hai ba tháng, chợt một hôm có một ông già bán ngọc đến mách rằng:
- Tại Quắc châu, phố hàng thuốc, có nhà muốn bán một cái chày ngọc. Nếu ông cần mua, tôi sẽ viết thư giới thiệu, nhưng tất phải hai trăm lạng người ta mới bán.
Bùi Hàng phải đem bán cả đồ đạc mới đủ số tiền ấy.
Sau, quả mua được chày ngọc, đem về Lam Kiều đưa cho bà cụ. Bà cụ cười mà nói rằng:
- Thế thì chàng là một người chí thành và chịu khó, có lẽ nào tôi tiếc một người cháu gái mà không cho chàng để đền công khó nhọc.
Người con gái cũng mỉm cười mà nói rằng:
- Đã đành thế, nhưng phải giã thuốc đủ một trăm ngày mới được thành thân,
Bà cụ nghe nói liền đem thuốc ra. Thế là Bùi Hàng phải giã thuốc suốt ngày, cứ đến tối lại nghỉ và đưa thuốc cho bà cụ cất đi. Song có khi đêm cũng nghe thấy tiếng chày. Dòm vào nơi có tiếng chày ấy, thì thấy một con ngọc thố (thỏ ngọc) cũng đang giã thuốc. Thấy thế, Bùi Hàng lại càng kiên tâm, chăm chỉ hơn.
Đúng hạn trăm ngày, bà cụ lấy thuốc uống ngay, rồi bảo:
- Bây giờ tôi cùng cháu gái vào động để nói với họ hàng về việc hôn nhân của chàng. Vậy cứ đợi đây, rồi sẽ có xe ngựa ra đón.
Đến khi Bùi Hàng vào động, thì thấy nhà cửa nguy nga chẳng khác lâu đài, rèm châu, màn gấm, đệm thúy, chăn loan, bàn ngọc, mâm ngà, đồ đạc quý báu, không biết bao nhiêu mà kể, thật là một chốn tiên cung. Các tiên đồng đưa chàng vào làm lễ, rồi ra vái bà cụ, Bà cụ nói rằng:
- Bùi lang cũng là dòng dõi Bùi chân nhân, thế thì làm rể nhà ta thực xứng đáng.
Nói rồi chỉ vào một nàng mà bảo là chị vợ.
Bùi Hàng ra cúi chào thì người ấy hỏi:
- Bùi lang có biết tôi không?
Chàng vẫn cúi mà đáp:
- Tôi lạ lùng chưa được biết.
Người ấy lại hỏi:
- Vậy thì chàng có nhớ người đi cùng thuyền về Tương Hán không?
Bùi Hàng ngẩng mặt nhìn kỹ mới nhận ra Phàn phu nhân. Hỏi những người ở đấy, mới biết phu nhân là vợ ông Vân Kiều đại nhân Lưu Cương Tiên.
Sau, bà cụ bảo cháu gái đưa chàng vào động Ngọc Phòng, cho uống những thứ thuốc gọi là Giáng Tuyết và Quỳnh Anh. Uống vào thấy tinh thần thanh sảng và cốt thể nhẹ nhàng mà thành tiên.
Đến năm Thái Hòa, một người bạn Bùi Hàng là họ Lư có gặp chàng ở gần trạm Lam Kiều.
Chàng nói chuyện cho biết đã đắc đạo, và có tặng cho người bạn mấy hạt ngọc Lam Điền với một viên thuốc linh đan. Người bạn hỏi:
- Ông có thể truyền đạo cho tôi được không?
Bùi Hàng đáp:
- Người ta có tâm hư bụng thực và có phép trường sinh bất tử thì mới truyền được. Hiện nay tôi chưa có thể nói đến chuyện đó.
Người bạn biết không thể ép được, bèn từ biệt đi về.
Từ đấy, không ai gặp Bùi Hàng ở đâu nữa.
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,468
Posts: 13687
Joined: 22 Mar 2009
 
 

Re: Điển Tích

Postby bevanng » 12 Apr 2022

Vu Hựu - Lá thắm

Tình Sử

Kim Vân Kiều

Thâm nghiêm kín cổng cao tường
Cạn dòng lá thắm rứt đường chim xanh.


Phan Trần


Tơ hồng lá thắm là duyên,
Dù bao giờ gặp thì nên bấy giờ


Bích Câu Kỳ Ngộ

Trông qua lặng ngắt giờ lâu
Ấy ai thả lá doành câu ghẹo người.


Đời vua Hy Tôn nhà Đường (Dương lịch: 874-889), có một người con gái họ Hàn, được tuyển vào làm cung nữ. Nhưng đã ngót mười năm, nàng không bao giờ được trông thấy mặt vua, suốt ngày nhàn rỗi, hết thẫn thơ nơi cảnh vắng, lại vong vóng chốn phòng không. Nàng tự nghĩ sống trong một cảnh thê lương hiu quạnh như thế, thật không lấy gì làm vui thú.
Một hôm, nàng đi vãn cảnh, trông thấy một cái ngòi, dòng nước chảy xiết, từ trong cung ra ngoài phố. Nàng lấy một lá ngô, đề bốn câu thơ, rồi thả xuống nước cho trôi đi.

Thơ rằng:

Dòng nước sao chảy xiết,
Trong cung suốt buổi nhàn,
Ân cần nhờ lá thắm,
Mau đến chốn nhân gian.


Hay là:

Nước chảy sao mà gấp,
Thâm cung ngày trọn nhàn.
Ân cần tạ lá đỏ,
Khéo đến chốn nhân gian.


Nguyên tác:

Lưu thủy hà thái cấp,
Cung trung tận nhật nhàn,
Ân cần tạ hồng diệp,
Hảo khứ đáo nhân gian.


流 水 何 太 急 虿
中 盡 3时 勉
慇 謝 紅 f
好 去 到 人 間


Lúc bấy giờ, một người tên là Vu Hựu, nhân đi chơi mát ngoài phố, trông xuống ngòi, thấy chiếc lá trôi, trên lại có thơ đề, biết ngay là thơ của cung nữ. Chàng cũng lấy một cái lá khác, đề bốn câu thơ, chờ khi nước chảy vào cung, đem thả giữa dòng.

Thơ rằng:

Nghe oanh thấy liễu chạnh lòng thương,
Thương kẻ trong cung lúc đoạn trường,
Chiếc lá đề thơ trôi mặt nước,
Gửi cho ai đó nói không tường.


Nguyên tác:

Sầu kiến oanh đề liễu nhử phi, ,
Thượng dương cung nữ đoạn trường thì
Tư quân bất cấm đông lưu thủy,
Diệp thượng đề thi ký giữ thùy


越 見 驾 啼 柳 絮 飛
上 陽 宮 女 斷 腸 時
思 君 不 禁 東 流 水
葉 上 題 詩 寄 與 誰


Cách đó ít lâu, vua hạ chiếu thải cung nữ, hơn ba nghìn người, trong số ấy có cả Hàn thị. Khi ở cung ra, nàng về nhà một người trong họ, tên là Hàn Vịnh. Chính lúc ấy, Vu Hựu cũng ở đó.
Sau Hàn Vịnh thấy Vu Hựu là người tử tế, bèn gả nàng cho.
Một hôm, Vu Hựu tình cờ thấy chiếc lá đề thơ của chàng ở trong hòm vợ, mới lấy cho vợ xem chiếc lá đề thơ, chàng bắt được khi xưa. Cả hai người đều cho là sự ngẫu nhiên hiếm có.
Hàn Vịnh bèn mở tiệc mừng, bắt Hàn thị làm một bài thơ để tạ lá thắm.

Thơ rằng:

Câu thơ tuyệt diệu theo dòng nước,
Ôm hận mười năm ngỏ với ai,
Nay được vui vày loan phượng sánh,
Khen thay lá thắm mối manh tài.


Hay là:

Vài câu thơ đẹp theo dòng nước,
Mười năm thương nhớ mãi không phai.
Nay được xum vầy, loan sánh phượng,
Mới hay lá thắm mối manh tài.


Nguyên tác:

Nhất liên giai cú tùy lưu thủy,
Thập tải u tư mãn tố hoài,
Kim nhật khước thành loan phượng lữ,
Phương tri hồng diệp thị lương môi.


一 聯 桂 句 隨 流 水
十 栽 幽 思 滿 素 懷
今 日 却 成 鸯 鳳 侣
方 知 鉢 葉 是 良 媒


Bài thơ ấy không những là để tạ lá thắm, mà lại có ý nói lấy làm phỉ nguyền được kết duyên cùng Vu Hựu.
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,468
Posts: 13687
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Điển Tích

Postby bevanng » 14 Apr 2022

Vi Cố - Chỉ hồng

Tình Sử

Kim Vân Kiều

Dù khi lá thắm chỉ hồng,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.


Hoa Tiên


Trăm năm một sợi chỉ hồng,
Buộc người tài sắc vào trong khuôn trời.


Cung Oán


Ngẫm nhân sự cớ chi ra thế,
Sợi xích thằng chỉ để vướng chân?


Phan Trần

Cửa Từ phương tiện đâu bằng,
Kim thằng xin đổi xích thằng này cho.


Vi Cố là người ở Đỗ lăng, cha mẹ mất sớm. Chàng muốn lấy vợ để sinh con nối dõi, mà hỏi đâu cũng không thành.
Năm Trinh quán thứ hai đời Đường (Dương lịch: 628), chàng đi chơi Thanh hà, gặp người mách mối con gái ông Phan Phỏng, làm quan Tư mã ở đó. Người mối hẹn chàng lúc tối đến cửa chùa Long Hưng xem mặt. Chàng y hẹn ra chùa, nửa đường thì gặp một cụ già đeo một cải đãy, đang ngồi xem sách dưới ánh trăng (nguyệt lão), ở trước một cái nhà tranh. Chàng trông vào sách, tuyệt chẳng biết được một chữ gì, mới hỏi:
- Thưa cụ, sách này là sách gì thế? Từ thuở nhỏ, cháu đã xem rất nhiều sách, đọc được các thứ chữ, thế mà đến thứ chữ này, cháu chửa từng được thấy bao giờ.
- Có phải là sách trần gian đâu mà anh thấy được.
- Vậy là sách gì, thưa cụ?
- Đó là sách âm phủ.
- Thưa, cụ là người âm phủ, sao lại đến đây?
- Người âm phủ mà chủ trương việc trần gian, thì phải xen lẫn với người trần chứ. Thực ra thì trên đường qua lại, một nửa là người trần, một nửa là người âm, mắt trần không thấy được.
- Vậy cụ coi về việc gì?
- Ta coi về việc hôn nhân của mọi người.
Vi Cố mừng lắm, nói rằng:
- Thưa cụ, cháu mồ côi từ khi còn nhỏ, muốn sớm có vợ có con để nối dõi, thế mà từ mười năm nay hỏi đâu cũng không được. Hiện có người hẹn làm mối cho con gái quan Tư mã họ Phan, xin cụ dạy cho biết có thành không?
- Không thành đâu. Anh sẽ lấy một người bây giờ mới lên 3 tuổi, nhưng mãi đến khi người ấy 17 tuổi, anh mới cưới về được.
- Đãy của cụ có đựng gì thế kia?
- Có những sợi dây đỏ (xích thằng) để buộc chân những người phải lấy nhau; dù ghét nhau thế nào, xa cách nhau đến đâu ra nữa, hễ đã buộc vào với nhau, thì thế nào cũng thành vợ chồng. Chỉ ấy đã buộc chân anh vào với người con gái lên 3 kia rồi, anh có muốn lấy người khác cũng không được.
- Thưa, hiện nay người ấy ở đâu? Nhà làm nghề gì?
- Người ấy là con Trần thị bán rau ở phía bắc kia.
- Liệu cháu có thể xem mặt được không?
- Được lắm. Khi bán rau ở chợ, mẹ thường bế con đi; anh cứ theo tôi, tôi sẽ chỉ cho.
Trời vừa sáng. Vi Cố vẫn chẳng thấy người mối đến. Ông cụ bèn bỏ sách vào đãy, rồi đưa Vi Cố đến một cái chợ, chỉ vào một con bé bẩn thỉu mà nói rằng:
- Đấy, vợ anh đấy.
Vi Cố giận lắm mà nói rằng:
- Chảu muốn giết nó đi, có được không?
- Không được. Người con gái ấy tốt số lắm, sau sẽ được phong tước.
Nói xong, ông cụ biến mất.
Vi Cố về nhà mài dao nhọn, sai một đứa đầy tớ nhanh nhẹn đi giết đứa bé kia, và hẹn sẽ thưởng một vạn đồng.
Sáng hôm sau, người đầy tớ giắt dao ra chợ, nhân khi đông đúc, nhằm đâm vào ngực con bé, nhưng lại chệch lên phía trên sống mũi. Cả chợ xôn xao, người đầy tớ mau chân trốn thoát.
Mười bốn năm qua, Vi Cố chẳng lấy được ai. Sau, chàng tập ấm, rồi làm việc dưới quyền quan Thứ sử Tương châu là Vương Thái. Chàng được quan Thứ sử trọng dụng và gả con gái cho. 
Vương tiểu thư khi ấy mới mười bảy tuổi, mặt hoa da phấn, nhưng lúc nào cũng đính một bông hoa nhỏ bằng vàng bên trên sống mũi, dù khi tắm gội cũng chẳng bỏ ra. Lấy nhau đã hơn một năm, một hôm chồng gạn hỏi vợ duyên cớ ra sao, thì vợ nói rằng:
- Thiếp vốn là cháu quan Thái thú và là con quan huyện Tống Thành. Cha thiếp mất tại chức, từ khi thiếp còn đang ẵm ngửa; chẳng bao lâu mẹ thiếp và anh thiếp cũng chết theo, để thiếp chơ vơ một mình. * của thiếp là Trần thị bèn đem thiếp về nuôi trong một cái trại, ở phía nam Tống thành. * rất quý thiếp, đi đâu cũng chẳng rời. Năm thiếp mới lên ba, * bế thiếp ra bán rau ngoài chợ, gặp một kẻ hung hãn, đâm thiếp một nhát thành sẹo. Hoa vàng thiếp đeo, là để che cái sẹo ấy. Bảy tám năm sau, chú thiếp bổ về làm quan ở Lư long, thiếp mới được gặp. Thiếp ở với chú, được coi như con, và được gả cho chàng.
Vi Cố hỏi:
- Có phải Trần thị chột mắt không?
- Phải, nhưng sao chàng biết?
- Chính tôi là người đã chực giết nàng.
Vi Cố bèn kể cho nghe đầu đuôi câu truyện cũ.
Từ đấy vợ chồng lại càng kính mến nhau hơn.
Sau, có con trai làm quan Thái thú. Vợ Vi Cố quả được phong Phu nhân.
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,468
Posts: 13687
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Điển Tích

Postby bevanng » 15 Apr 2022

Bá Nha, Tử Kỳ

Kim Cổ Kỳ Quan

Kim Vân Kiều

Rằng nghe nổi tiếng cầm đài
Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ.


Lục Vân Tiên

Than rằng: lưu thủy cao sơn
Ngày nào nghe được tiếng đàn tri âm.


Trinh Thử

Bá Nha xưa gặp Tử Kỳ
Bảo sơn ắt chẳng trở về tay không.


Về đời Chiến quốc, có một người danh sĩ họ Du tên Thụy, tiểu tự Bá Nha, quê ở Sính đô nước Sở, thuộc phủ Kinh châu. Nhân làm quan nước Tấn đến chức Thượng đại phu, ông vâng mạnh vua Tấn đi sứ nước Sở. Ông đến Sính đô, vào bệ kiến vua sở để trình sứ mệnh. Vua sở mở tiệc khoản đãi rất long trọng, ông có đi viếng phần mộ, thăm bạn bè, nhưng không dám ở lâu. Khi nhiệm vụ đã xong, ông vào bái biệt vua Sở. Nhà vua có tặng ông gấm vóc vàng bạc, lại dành riêng một chiếc thuyền lớn đưa ông về Tấn, để tránh nỗi nhọc nhằn của đường bộ, và có phái đình thần tiễn đưa đến tận bờ sông.
Bá Nha vốn là một bậc phong lưu tài tử, cho nên lúc trở về, hễ thấy nơi nào phong cảnh đẹp, cũng đều thưởng ngoạn. Thuyền đến cửa sông Hán dương nhằm vào đêm Trung thu, bèn cắm sào ở chân núi. Vầng trăng vằng vặc giữa trời, như khơi nguồn cảm hứng. Bá Nha mới sai tiểu đồng đốt lò hương, đem túi đàn đặt trên án. Ông mở túi lấy đàn ra gẩy. Chưa hết một khúc, bỗng đứt một dây. Ông kinh ngạc, gọi tiểu đồng, sai lên bờ xét xem có ai nghe trộm không, tiểu đồng chưa kịp tuân lời, thì đã nghe thấy trên bờ có tiếng người nói xuống:
- Xin Đại nhân ở trong thuyền chớ ngại. Kẻ tiểu nhân này, đi kiếm củi về khuya, thấy tiếng đàn hay, quả có đứng nghe trộm.
Bả Nha cả cười mà nói:
- Một chú tiều phu mà dám nói đến việc nghe đàn, sao ngông cuồng như vậy. Thôi ta cũng chẳng chấp, bây ra bảo hắn đi ngay đi.
Người tiều phu nói to lên rằng:
- Đại nhân nói lầm rồi. “Một xóm 10 gia đình chắc cũng có người trung tín; trong nhà có người quân tử ở, thì ngoài cửa cũng có người quân tử đến”. Đại nhân chẳng nghe nói thế hay sao? Nếu ở chốn quê mùa núi non không có kẻ biết nghe đàn, thì sao khi đêm khuya thanh vắng ở chỗ rừng hoang lại có người biết gẩy đàn được.
Bá Nha nghe câu nói lấy làm thú vị, bèn ra ngoài hỏi với lên bờ rằng:
- Hỡi ông đứng trên bờ kia, ông đã biết nghe đàn, thì cũng biết khúc tôi vừa gẩy là khúc gì chứ?
- Đó là bài Đức Khổng Tử than tiếc ông Nhan Hồi mất sớm, đem phổ vào tiếng đàn. Tôi xin đọc cho Đại nhân nghe:

Khá tiếc Nhan Hồi chẳng thọ trường,
Khiến người tơ tưởng tóc như sương,
Vui lòng ăn ở đường sơ lậu,


Nguyên tác:

Khả tích Nhan Hồi mạng tảo vương,
Giao nhân tư tưởng mấn như sương;
Chỉ nhân lậu hạng đan biều lạc,


吁 糌 巅 回 命 乎 亡
教 人 思 想 髮 如 齋
只 因 陋 各 軍 狐 帶


Vừa đến đấy thì đàn đứt, chưa kịp gẫy đến câu thứ tư, mà tôi cũng còn nhớ, là:

Lưu mãi danh hiền khắp bốn phương.

Lưu đắc hiền danh vạn cổ dương,
筲 得 腎 石 萬 古 揚


Bá Nha nghe nói rất mừng, bèn sai bắc cầu mời người ấy xuống. Đầy tớ thấy rõ ràng là một chú tiều phu, nên có ý rẻ rúng mà dặn phải lạy chào và thưa bẫm cho kính cẩn. Người tiều phu cứ thản nhiên bước vào khoang thuyền vái chào. Bá Nha giơ tay ra hiệu miễn lễ, mà nói rằng:
- Ông đã biết nghe đàn, tất biết người chế tạo ra đàn cầm là ai, và đàn có ích lợi gì chứ?
- Đại nhân đã hỏi đến, tôi xin thưa. Tôi còn nhớ trong sách có chép rằng: Về đời vua Phục Hi, có tinh khí của 5 vì sao tụ xuống một cây ngô đồng, sau lại có phượng hoàng đến đậu ở đó. Phượng hoàng là chúa các loài chim, chỉ ăn quả trúc, chỉ uống nước giếng trong, chỉ đậu cây ngô đồng quí như thế, mà lại thu được tinh khí của tạo vật, thì có thể dùng làm nhạc khí được. Vua bèn sai người hạ xuống, chia ra làm ba đoạn, chỉ tam tài, là trời, đất, người. Đoạn trên có tiếng trong quá và nhẹ quá; đoạn dưới đục quá và nặng quá; duy có đoạn giữa là trong đục phải khoảng, nặng nhẹ vừa tầm. Vua cho lấy khúc giữa ấy ngâm xuống dòng nước 72 ngày, rồi đem phơi khô trong bóng râm. Sau chọn ngày tốt, bảo một người thợ khéo là Lương Tử Kỳ chế thành nhạc khí, theo lối của Dao Trì, cho nên gọi là Dao cầm. Dao Cầm chiều dài là 3 thước 6 tấc 1 phân, chỉ 361 độ của vòng trời, mặt trước rộng 8 tấc, chỉ 8 tiết trong một năm; mặt sau rộng 4 tấc chỉ 4 mùa; chiều dầy 2 tấc chỉ khí âm dương. Lại có đầu Kim đồng, lưng Ngọc nữ, giếng phượng nở rồng phím vàng trục ngọc. Trong số 13 phím, thì 12 phím chỉ 12 tháng, còn 1 phím ở khoảng giữa để chỉ tháng nhuận. Đàn có mắc 5 dây, ngoài thì chỉ ngũ hành, là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, trong chỉ 5 âm, là cung, thương, giốc, chủy, vũ. Khi vua Thuấn gẩy đàn 5 dây, ca khúc Nam phong, thiên hạ đều yên vui. Khi vua Chu Văn Vương bị hạ ngục ở Rĩu lý gẩy, để tả nỗi thanh u ai oán, cho nên gọi là dây văn. Khi vua Vũ Vương đánh vua Trụ, trước ca sau múa, lại thêm một dây nữa để tỏ lòng hăng hái, cho nên gọi là dây vũ. Thế là từ đấy đàn có 7 dây.
Đến như nghề gẩy đàn, thì có 6 điều kiêng kỵ, 7 trường hợp không nên đàn.
6 điều kiêng kỵ là: rét lắm, nắng lắm, gió to, mưa to, sấm nhiều, tuyết nhiều.
7 trường hợp không nên đàn là: nghe tiếng đưa đám, rối ruột, bận việc, mình không sạch sẽ, áo mũ không chĩnh, không đốt lò hương, không gặp tri âm.
Lại có 8 thứ tuyệt diệu là: thanh, kỳ, u, nhã, bi, tráng, du, trường.
Gẩy đàn ấy mà hay đến hết sức, thì hổ phải thôi gầm, vượn phải ngừng hót. Cho nên ngày nay đàn cầm là quý nhất trong các nhạc khí vậy.
Bá Nha nghe dứt lời, lấy làm trọng lắm, lại hỏi rằng:
- Ngày xưa Đức Khổng Tử đương gẫy đàn trong nhà, ông Nhan Hồi từ ngoài vào, nghe thấy tiếng đàn u trầm, ngờ có sát khí, lấy làm lạ mà hỏi Đức Khổng Tử. Ngài trả lời rằng Ngài đương đàn, thì trông thấy một con mèo đuổi một con chuột, Ngài có ý muốn cho mèo bắt được chuột, cho nên cái ý sát phạt có lẫn vào tiếng đàn. Thế tức là ông Nhan Hồi nghe tiếng đàn mà biết được lòng người đó. Nay tôi thử vừa gẩy đàn, vừa nghĩ ngợi, liệu ông có biết được tôi nghĩ gì không?
- Xin cứ gẩy, để tôi thử đoán xem.
Bá Nha lại ôm đàn, gẫy một bài tầm thường, mà nghĩ đến núi cao. Tiều phu thưa rằng:
- Véo von thay! Có lẽ ngài để chí vào chốn non cao.
Bá Nha lại đàn, nhưng nghĩ đến nước chảy. Tiều phu lại nói:
- Sâu xa thay! Có lẽ Ngài để chí đến nơi nước chảy.
Bá Nha thấy tiều phu thấu được lòng mình, càng kính phục lắm. Bèn mời ngồi lên ngang hàng, sai bầy tiệc khoản đãi, và hỏi họ tên.
Tiều phu nói:
- Tôi họ Chung, tên Huy, tiểu tự Tử Kỳ, nhà ở núi Mã yên, thôn Tập hiền. Xin hỏi đại nhân, quý danh là gì, và làm quan ở đâu?
Bá Nha nói:
- Tôi họ Du, tên gọi Bá Nha, làm quan nước Tấn, vâng mệnh sang sứ đây. Tiên sinh là người đại tài, sao không ra mà cầu lấy công danh, lại chịu ở chỗ quê mùa, làm nghề đốn củi, cùng cỏ cây mục nát, chẳng cũng uổng lắm ru?
Tử Kỳ nói:
- Tôi còn bố mẹ, không có anh em, một thân đi kiếm củi về nuôi, dẫu làm gì ở đâu xa, cũng không thể đi được.
Bá Nha cho là người có hiếu mà hỏi:
- Tiên sinh bao nhiêu tuổi?
Tử Kỳ đáp:
- Tôi hai mươi bảy tuổi.
Bá Nha nói:
- Tiên sinh thật là một người bạn tri âm của tôi. Kém tôi mấy tuổi, tiên sinh có bằng lòng cùng tôi kết nghĩa anh em không?
Tử Kỳ thưa:
- Đại nhân là một vị đại thần, tôi là người quê mùa nghèo hèn, có dám đâu cùng ngài, kết nghĩa anh em.
Bá Nha nói:
- Tôi được cùng với người đại hiền kết bạn, lấy làm may lắm, có kể chi đến sự giàu nghèo sang hèn.
Tức thì sai tiểu đồng đốt trầm. Hai người cúng lễ trời đất, mà kết làm anh em. Bá Nha là anh, Tử Kỳ là em.
Lễ rồi bày tiệc rượu, hai người cùng uống, chuyện trò cho đến sáng.
Các thủy thủ sửa soạn nhổ sào; Tử Kỳ đứng dậy cáo từ.
Bá Nha nói:
- Tình anh em không muốn rứt, anh xin em cùng đi đến chơi nhà anh mấy hôm, có được không?
Tử Kỳ nỏi:
- Không phải là em không muốn theo anh, nhưng vì cha mẹ ở nhà, không thể bỏ mà đi dược.
Bá Nha nói:
- Vậy thì mời cả song thân đi có được không?
Tử Kỳ nói:
- Em không dám vâng điều ấy: nếu về không mời được song thân đi, thì thành chờ lâu vô ích, tất em có lỗi với anh.
- Nếu thế, sang năm, anh lại đến thăm em. 
Tử Kỳ hỏi:
- Sang năm, vào độ nào anh đến?
Bá Nha nói:
- Cũng đúng vào ngày hôm nay.
Tử Kỳ nói:
- Vậy em xin ra đón.
Bá Nha lấy hai nén vàng đưa cho Tử Kỳ và nói:
- Của này là để dâng song thân, gọi là lễ mọn, xin em nhận mang về.
Tử Kỳ bất đắc dĩ phải nhận, rồi cùng nhau từ giã.
Thuyền nhổ sào, đi trong mấy ngày đã đến Tấn dương. Bá Nha đem tâu các việc với vua Tấn, xong rồi, trong lòng vẫn tơ tưởng người bạn tri âm.
Thì giờ thấm thoát, đông qua hạ tới, lại gần đến tiết Trung thu, Bả Nha sắm sửa hành trang cùng với các gia đồng xuống thuyền, lại nhằm hôm rằm tháng tám đến núi Mã yên, đúng chỗ hội với Tử Kỳ năm trước, Thuyền đậu tới hai ngày, mà chẳng thấy tăm hơi. Đến đêm ông lại giở đàn ra gẩy, xem Tử Kỳ có tới nghe không; trong khi gẩy, tự nhiên có tiếng ai oán, biết ngay rằng Tử Kỷ bị nạn. Bèn cất đàn đi, cả đêm không ngủ.
Sáng hôm sau, Bả Nha cùng tiểu đồng mang đàn đi lên thôn Tập hiền; đến chỗ ngã ba, không biết rẽ lối nào, may gặp một ông già chống gậy đi qua, bèn lại chào mà hỏi lối.
Ổng già nói:
- Ở đây có hai thôn Tập hiền, ông muốn đến thôn nào?
Bá Nha đáp:
- Tôi muốn đến thôn ông Tử Kỳ ở.
Ông già nghe nói liền khóc mà rằng:
- Tử Kỳ chính là con tôi. Năm ngoái cháu có gặp quan Thượng đại phu nước Tấn, là Du Bá Nha tiên sinh, lấy làm tâm đầu ý hợp. Khi ngài biệt, có tặng hai nén vàng và hẹn năm nay lại đến. Cháu mua sách về, ban ngày kiếm củi, ban đêm đọc sách, khó nhọc quá mà thành bệnh rồi mất.
Bá Nha nước mắt như mưa, khóc than thảm thiết. Chung Công bèn khẽ hỏi tiểu đồng rằng:
- Ông ấy là ai thế?
Tiểu đồng đáp:
- Chính là Du Bá Nha tiên sinh.
Chung Công bèn gạt lệ mà an ủi Bá Nha, rồi nói:
- Lúc hấp hối, cháu đã cho tôi biết rằng có hẹn gặp ngài ở dưới núi Mã Yên vào ngày rằm tháng tám này, và xin an táng ở trước núi để khỏi sai lời hẹn. Cháu mất đến hôm nay vừa được trăm ngày, cho nên tôi đi thăm mộ.
Bá Nha nói:
- Nếu thế, xin Lão bá cho tôi cùng ra mộ để viếng lệnh lang.
Chung Công đưa đến nơi, Bá Nha lạy trước mồ mà khóc rằng:
- Em sống khôn, chết thiêng, xin chứng giám những lời anh viếng.
Bà Nha đem đàn ra trước mộ gẩy, và đọc một bài từ như sau này:

Năm ngoái cũng Trung thu,
Bên sông được gặp nhau,
Năm nay lại tìm đến,
Nào thấy tri âm đâu,
Trơ trơ một nấm đất
Khiến cho lòng ta đau,
Lòng đau, lại lòng đau,
Khôn ngăn giọt lệ châu,
Đi vui, sao về khổ,
Bên sông thấy mây sầu,
Tử Kỳ hỡi Tử Kỳ, nghìn vàng là nghĩa ấy,
Tri âm còn biết tìm đâu thấy,
Khúc này dứt tiếng chẳng còn đàn,
Ba thước dao cầm chết theo đấy.


Nguyên tác:

Ức tích khứ niên xuân,
Giang biên tằng kiến quân,
Kim nhật trùng lai phỏng,
Bất kiến tri âm nhân,
Đãn kiến nhất phần thổ,
Ân nhiên thương ngã tâm,
Thương tâm, phục thương tâm,
Bất giác lệ phân phân,
Lai hoan khứ hà khổ,
Giang bạn khởi sầu vân,
Tử Kỳ Tử Kỳ hề, nhĩ ngã thiên kim nghĩa,
Lịch tận thiên nhai vô túc ngữ,
Thử khúc chung hề bất phục đàn,
Tam xích dao cầm vị quân tử.


隐 普 去 年 春
江 遂 曾 見 君
今 曰 重 恭 訪
不 見 知 音 人
但 見 一 墳 土
殷 然 傷 我 心
傷 心 復 傷 心
不 覺 淚 纷 紛
來 歡 去 何 者
江 衅 起 趑 當
子 期 子 期 兮 爾 我 十 金 義
歷 盡 大 澳 無 鼠 語
此 曲 中 兮 不 復 殫
三 尺 瑤 琴 爲 君 死


Bá Nha đọc rồi, hai tay bưng đàn, hết sức đập xuống, vỡ tan tành.
Chung Công thấy vậy, cả sợ, hỏi cớ sao? Bá Nha lại đọc một bài như sau này:

Đập vỡ đàn kia chẳng rụt rè,
Chung Kỳ đã mất, gẩy ai nghe,
Gió xuân đâu cũng người quen biết,
Khó được tri âm kết bạn bè.


Nguyên tác:


Thốt toái dao cầm phượng vĩ hàn,
Tử Kỳ bất tại đối thùy đàn,
Xuân phong mãn diện giai bằng hữu,
Dục mịch tri âm, nan thượng nan.


构 碎 瑤 琴 鳳 尾 寒
子 期 不 在 對 誰 殫
春 風 满 面 皆 朋 友
欲 見 知 音 灘 上 難


Bá Nha nói với Chung Công rằng:
- Nay tôi có bụng thương đau, không muốn theo Lão bá về nhà; nhân có mười lạng vàng, xin tặng một nửa, để sửa sang phần mộ lệnh lang, một nửa xin dành tặng hai Lão bá, gọi là lễ mọn, Rồi ra, tôi xin từ chức, sẽ rước hai vị Lão bá về nuôi thay cho Tử Kỳ. Xin hai vị Lão bá coi tôi cũng như Tử Kỳ vậy.
Chung Công khóc mà nhận, rồi mọi người đều đi cả.
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,468
Posts: 13687
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Điển Tích

Postby bevanng » 16 Apr 2022

Vi Cao, Ngọc Tiêu

Dị Văn

Thị Kính

Vi Cao lồng vốn chăm chăm
Ngọc Tiêu phong độ mấy năm tái hoàn.


Về đời Đường, có một ông quan Tiết độ sử ở Lưỡng xuyên, tên gọi Vi Cao.
Khi còn trẻ, nhân có việc ở Giang hạ, Vi Cao đến trọ ở nhà một vị Sứ quân họ Khương. Con trai Sứ quân, tên là Kinh Bảo, rất hậu đãi Vi Cao, đích thân săn sóc từ nơi ăn chốn ở, lại sai một thị tỳ nhỏ, tên là Ngọc Tiêu, hầu hạ bên cạnh.
Ngọc Tiêu lúc ấy mới mười tuổi, rất thông minh, nhanh nhẹn, mà lại cẩn thận, cho nên Vi Cao quý lắm.
Hai năm sau, nhân dịp Sứ quân phải vào kinh, Vi Cao mới xin dọn sang ở một ngôi chùa. Kinh Bảo cố lưu ông lại mà không được, đành để ông dọn đi, nhưng vẫn cho Ngọc Tiêu theo hầu.
Một hôm, Vi Cao chợt nhận được thư của thân phụ kíp gọi về quê. Ông vội vã cho đi thuê thuyền, rồi thân đến nhà Kinh Bảo từ biệt.
Lúc ấy Ngọc Tiêu đã hơi lớn, Kinh Bảo ngỏ ý xin cho nàng được theo hầu chăn gối.
Vi Cao có vẻ mừng rỡ mà tạ rằng:
- Tôi thực rất thâm cảm cái hậu ý của chàng, nên đâu dám chối từ. Nhưng tôi về chuyến này công việc bộn bề, phải khá lâu mới xong xuôi được. Vậy Ngọc Tiêu cứ ở lại đây. Vào khoảng 5 năm nữa, mà chậm ra là 7 năm, thế nào tôi cũng trở lại để lấy nàng.
Ông băn khoăn không nỡ rứt, bèn đưa cho Ngọc Tiêu một cái vòng ngọc để làm tin, rồi từ giã mọi người mà xuống thuyền.
Tháng ngày qua, Ngọc Tiêu những đêm ngày trông mong chờ đợi; nàng thường đi lễ bái cầu đảo ở những đền thiêng. Sau 5 năm chẳng có tin gì về Vi Cao, mà quá 7 năm cũng không thấy ông trở lại, Một hôm, Ngọc Tiêu rầu rĩ mà than rằng:
- Nay đã quá 7 năm rồi mà chẳng thấy Vi lang quân, chắc rằng lang quân không đến nữa. Thế rồi nàng nhịn ăn mấy ngày mà chết.
Nhà họ Khương ai nấy đều cho nàng là tiết nghĩa mà thương tiếc vô cùng. Kinh Bảo lại lấy cái vòng ngọc của Vi Cao tặng trước, đem buộc chặt vào tay nàng trước khi an táng.
Sau đó khá lâu, Vi Cao được làm quan, mà lại được về coi ngay đất Thục. Khi mới nhận chức, ông bắt đầu kiểm soát tội nhân, có đến hơn ba trăm người. Trong đám ấy, có mấy người nói nhỏ với nhau rằng: “Đó là quan Bộc sạ Vi Cao, xưa kia vẫn ở đất ta đấy”, Một tội nhân nghe nói, bèn kêu to lên rằng:
- Quan Bộc sạ còn nhớ tên Kinh Bảo họ Khương không?
Vi Cao nhìn lại, sửng sốt mà nói:
- Chàng Kinh Bảo đấy à? Cớ sao mà đến nỗi tù tội như vậy?
Kinh Bảo đáp:
- Sau khi ngài biệt, tôi có một người nhà phạm tội, nên cũng bị lây.
Vi Cao bèn xin quan trên tha cho Kinh Bảo. Nhân hỏi thăm Ngọc Tiêu, Kinh Bảo đáp rằng:
- Trước khi xuống thuyền, ngài có hẹn chậm lắm là 7 năm sẽ trở lại lấy nàng. Đến ngày quá hẹn, chẳng thấy tăm hơi, cho nên nàng đã nhịn ăn mà chết. Cái vòng ngọc ngài tặng để làm tin, tôi cũng buộc vào tay nàng để chôn theo. Nàng còn có để lại một bài thơ sau này:

Chim sẻ ngậm vòng đã mấy xuân,
Gởi vòng từ biệt tặng giai nhân,
Cá nhàn bặt dấu, đường xa ngút,
Giấc mộng thăm nhau được thỏa dần.


Nguyên tác:

Hoàng tước hàm hoàn dĩ sổ xuân!
Biệt thời lưu giải tặng giai nhân,
Trường nhai bất kiến ngư thư chí,
Vị khiển tương tư nhập mộng tần.


黄 雀 卹 環 己 救 春
別 時 留 解 贈 桂 人
長 街 不 見 魚 書 至
為 遣 相 思 入 夢 竭


Vi Cao nghe nói thương cảm vô cùng; đến lúc xem thơ, những giọt dài giọt ngắn.
Muốn đáp lại lòng nhớ tưởng của Ngọc Tiêu, ông thuê người tạc tượng nàng, lại tụng các thứ kinh để siêu sinh giải thoát.
Nhân nghe tiếng một đạo sĩ có phép đưa hồn người chết về nói chuyện với người sống, ông lập tức cho mời. Sau 7 ngày chay giới, ông mới được đạo sĩ cho gặp Ngọc Tiêu trong lúc đêm khuya. Khi hai người trò chuyện, Ngọc Tiêu có nói rằng:
- Xỉn đa tạ quan Bộc sạ đã có lòng thương mà cho tụng kinh tạc tượng. Thế nào thiếp cũng tái sinh; mười ba năm nữa sẽ xin đến hầu hạ để đền ơn ấy. Sở dĩ ngày nay phải âm dương cách biệt, là vì trước kia ngài đã bạc tình.
Từ đấy, Vi Cao vẫn làm quan đất Thục. Trải 13 năm, đến triều vua Đức Tôn, ông mới thăng làm Trung thư lệnh.
Một hôm, nhân ngày sinh nhật, ông mở tiệc ăn mừng. Các nơi có đưa đến mừng nhiều của quý vật lạ; một người ò Đông xuyên, tên là Lư Bát Tọa, đem dâng một người con hãy còn ít tuổi, sắc đẹp tiếng hay, tên là Ngọc Tiêu, trông giống y như Ngọc Tiêu nhà họ Khương ngày trước, mà tay còn hằn vết buộc.
Thấy vậy, Vi Cao than rằng: mọi việc sẩy ra, đều đúng như lời Ngọc Tiêu vậy.
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,468
Posts: 13687
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Điển Tích

Postby bevanng » 16 Apr 2022

Dã Tràng

Dã Tràng là một loại còng nhỏ, trên lưng lõm xuống, thường ở theo bờ biển. Nước ròng chúng dùng càng vít cát lên lưng, rồi chở xuống mé nước đổ, để lấp biển, nhưng đến khi nước lớn bị sóng đánh vào, cát bị tan rã.

“Dã tràng xe cát biển Đông,
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì” 


Thành ngữ này dùng chỉ việc làm nào dày công cực nhọc mà không đem lại kết quả gì. Ở đây chỉ những người suốt đời chỉ biết đeo đắm danh lợi hảo huyền, nhưng khi gặp tai nạn đưa đến thì tất cả đều buông trôi: “Từ rày trần hạ lợi danh trôi”. Và ngày rốt cuộc:
“Nhắm mắt cũng nắm hai tay”.
Đây là câu chuyện phát xuất thành ngữ Dã Tràng:
- Ngày xưa, tại tỉnh Sơn Tây (Trung Hoa), có anh thợ săn tên Dã Tràng, chuyên sống nghề săn bắn. Hôm nọ Dã Tràng đi ngang qua một hang đá, bỗng gặp đôi vợ chồng nhà rắn. Anh chẳng hề đá động đến, nhưng từ độ ấy anh luôn theo dõi cặp rắn, thấy chúng thường sống bên nhau, chừng như hạnh phúc lắm!
Một hôm, rắn cái tới kỳ lột vỏ, rắn đực đi kiếm mồi về nuôi nấng, chăm sóc. Chẳng bao lâu, tới kỳ lột vỏ của rắn đực, rắn cái chẳng những không làm bổn phận, lại còn đi tư tình với con rắn đực khác, và dắt tình nhân về miệng hang toan hại chồng. Thấy thế, Dã Tràng động lòng nghĩa hiệp, quyết giết con rắn lang chạ ấy, liền rút tên, bắn rắn cái chết tốt, tình nhân của nó kinh sợ chạy mất.
Mấy hôm sau, rắn đực cứng mạnh bò ra miệng hang, gặp vợ bị tên nằm chết, xem lại mũi tên có đề danh Dã Tràng, bèn tìm tới nhà báo thù. Rắn lẻn vô nằm núp dưới giường, bỗng nghe Dã Tràng thuật lại câu chuyện xảy ra của cặp rắn cho vợ nghe. Bấy giờ rắn đực mới vỡ lẽ, vợ mình chết là đáng tội. Còn anh thợ săn nầy là ân nhân của ta, nó liền bò ra gật đầu trước mặt Dã Tràng mấy cái và nhả ra một hột ngọc sáng, rồi bò đi mất.
Từ ngày Dã Tràng được rắn tặng cho viên ngọc, mỗi khi anh để ngọc vào miệng ngậm lại, nghe được tiếng của các loài thú. Hôm nọ, Dã Tràng nghe đàn quạ nói với nhau: “Phía đông, cách đây một dặm đường; có con nai bị thương gần chết”. Dã Tràng đến đó gặp đúng như vậy; anh xẻ nai lấy thịt. Đàn quạ bay theo kịp, kêu nói: “Lấy thịt nai cho chúng tôi bộ đồ lòng; vì công ấy của chúng tôi”. Dã Tràng làm y theo lời quạ. Lần sau cũng thế; nhưng quạ chưa đến kịp; bị chó sói cướp mất bộ đồ lòng. Quạ bay theo trách mắng: “Dã Tràng là kẻ bội ngôn…”
Dã Tràng biện mink thế nào, chúng cũng không thôi. Thấy quạ hỗn xược, mắng nhiếc đủ điều, Dã Tràng tức giận rút tên bắn quạ. Quạ né khỏi và cắn mũi tên bay đi, nói: “Ta sẽ báo thù”, đoạn rồi quạ đem mũi tên ấy, cấm vào tử thi đang trôi.
Thế là mấy ngày sau Dã Tràng bị lính bắt về tội bắn người chết. Anh bị tống giam chờ ngày kết án. Ngồi trong ngục Dã Tràng nghe bầy chim sẻ nói: “Có nhiều kho lương thực của vua để hở, đã bị loài chim ta ăn no nê”. Anh liền cho viên chủ ngục hay điều đó, lúc đầu họ không tin, nhưng việc xảy ra đúng như vậy. Sau đó Dã Tràng thấy đàn kiến kéo nhau di chuyển và nói: “Sắp có bão lụt lớn chúng ta phải lánh nạn”. Anh liền báo tin nữa, lần nầy quan sở tại cấp báo về triều đình để ra lệnh, ngừa lụt. Quả nhiên mấy hôm sau lụt lội tơi bời, nhưng nhờ ngừa trước nên không bị thiệt hại cho lắm.
Qua cơn lụt, Vua ra lệnh tha cho Dã Tràng và mời anh về trào hỏi nguyên do? Dã Tràng tâu rõ tự sự... Vua phong tước cho anh và ở lại hoàng cung. Từ đó Vua thường mượn viên ngọc của Dã Tràng ngậm vào miệng để được nghe tiếng của các loài chim nơi vườn Ngự uyển.
Ngày kia Vua tổ chức du ngoạn vùng biển, cũng để được nghe các động vật dưới nước nói chuyện; ngồi trên mạn thuyền Vua nghe các bầy cá tâm sự đủ điều, lòng thỏa thích vô hạn nên cười lên ha hả; bỗng viên ngọc rơi tỏm xuống nước. Vua rất hối hận nhưng không kịp, Vua động viên cả thợ lặn, chài lưới tìm lại viên ngọc, song vô hiệu.
Riêng Dã Tràng thì sầu não, biếng ăn, biếng ngủ và sau cùng nảy ra ý “lắp biển tìm châu” nên hằng ngày anh ta ra mé biển xe cát đổ xuống cho đến khi thân cùng lực tận mà vẫn không tìm được ngọc.
Sau khi Dã Tràng chết, người ta thấy trên bãi biển xuất hiện giống cua nhỏ (còng), cứ mỗi khi thủy triều xuống (nước ròng) thì chúng xe cát đổ thành đống sát mé nước, nhưng khi dòng thủy triều ùa lên (nước lớn) thì cát ấy bị tan đi. Cứ thế mà chúng mãi làm không chán. Thấy vậy, người ta bảo nhau rằng: có lẽ Dã Tràng chết đi vì lòng luyến tiếc chưa vẹn nên hóa kiếp làm loại còng ấy, với hoài bão lấp biển để tìm lại viên ngọc quý.
Điển nầy xưa nay văn chương thường dùng để chỉ cho sự lấp biển vá trời, là việc sức người không thể làm được, chỉ hoài công vô ích. Còn về Phật học: Dã Tràng ám chỉ cho vạn vật trong thế gian, những gì có hình sắc hay quyền tước, lợi danh, tình ái đều phải đi theo định luật: thành, trụ, hoại, không, nên dù ta có nhọc công gầy tạo và tham luyến cũng chẳng được bền lâu.
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,468
Posts: 13687
Joined: 22 Mar 2009
 
 
Món quà tinh thần gởi tặng bevanng từ: Que Huong

Re: Điển Tích

Postby bevanng » 16 Apr 2022

Bảo Thúc Nha -Quản Trọng


Bảo Thúc Nha — Cũng gọi là “Bảo Từ”, người nước Tề, thời Đông Châu liệt quốc. Bảo Thúc Nha với Quản Trọng vốn là đôi bạn tri kỷ từ lúc hàn vi. Bảo Thúc Nha hùn vốn đi buôn với Quản Trọng, khi được lời thì Quản Trọng giành phần nhiều.
Có người bảo với Thúc Nha Quản Trọng là người bạn xấu, hay tham lam. Thúc Nha cười đáp: Không phải thế đâu, Quản Trọng rất tốt chỉ vì nhà nghèo không đủ tiêu dùng.
Khi cả hai vào trong quân ngũ, khi ra trận Quản Trọng cứ hay lùi về phía sau, nhiều người cho là Quản Trọng hèn nhát. Thúc Nha bênh vực cho rằng: Quản Trọng sở dĩ không dám hy sinh, vì nhà còn mẹ già phải phụng dưỡng. Con người Quản Trọng chưa gặp thời đó thôi. Đã gặp thời rồi thì trăm việc không hề sai một.
Quản Trọng thường nói với mọi người: Sinh ta ra ấy là cha mẹ ta. Hiểu biết được ta chỉ có Bảo Thúc Nha mà thôi.
Bảo Thúc Nha và Quản Trọng đều giúp cho nước Tề. Nhưng lúc bấy giờ vua Tề là Tương Công hoang dâm vô độ, làm nhiều việc thất nhân tâm, mọi người đều ta thán. Khi nước Tề có biến, Bảo Thúc Nha và Quản Trọng cùng phân công nhau mỗi người giúp một Công tử nước Tề trốn ra nước ngoài để lo việc mai hậu cho quốc gia.
Quản Trọng giúp Công tử Củ chạy sang nước Lỗ.
Bảo Thúc Nha thì phò Công tử Tiểu Bạch sang nước Cử để lánh nạn, vì Thúc Nha cho rằng nước Cử gần ở Tề, nếu có phương tiện và dịp may về Tề mau hơn.
Sau khi vua Tề Tương Công bị ám sát, Bảo Thúc Nha đưa Công tử Tiểu Bạch về nước sớm và lên ngôi tức vị, tức là Tề Hoàn Công.
Lỗ Trang Công cũng ủng hộ Công tử Củ về nước, nhưng không kịp, vì Công tử Tiểu Bạch đã tức vị rồi, Lỗ Trang Công lấy làm tức giận liền xua quân sang đánh Tề, nhưng bị bại trận ở Kiền Thời, vua Lỗ phải bỏ xe chạy thoát thân.
Bảo Thúc Nha liền tâu với Tề Hoàn Công hiện nay Công tử Củ ở nước Lỗ với Thiệu Hốt và Quản Trọng, đó là mối di hại về sau cần phải trừ đi. Tề Hoàn Công chuẩn tấu.
Bảo Thúc Nha đích thân mang quân sang Lỗ.
Khi quân Tề sang đất Vấn Dương, Bảo Thúc Nha sai Công Tôn Thấp Bằng mang thơ sang Lỗ trình lên Lỗ Trang Công đại ý nói nước Tề không thể có hai vua. Nay Tề Hoàn Công đã lên ngôi, Công Tử Củ còn ở Lỗ mong cướp ngôi, nhưng dù sao vẫn là tình máu thịt không nỡ đánh giết, xin nhờ Lỗ. Riêng hai người theo phò Công Tử Củ là Thiệu Hốt và Quản Trọng xin cho bắt đem về trị tội. Bảo Thúc Nha lại dặn riêng Thấp Bằng tìm cách cứu thoát Quản Trọng.
Vì mới bị thua Tề, vua Lỗ đành cho người lén giết Công Tử Củ để cầu hòa. Thiệu Hốt dập đầu vào cột đá mà chết. Quản Trọng bị bắt. Thi Bá là tôi thần của Lỗ Trang Công đề nghị vua Lỗ nên giữ Quản Trọng lại dùng, bằng không thì nên giết đi, vì Quản Trọng là người tài, về Tề sẽ được người bảo lãnh, chắc không bị giết.
Thấp Bằng nghe ý định vua Lỗ tính giết Quản Trọng liền can thiệp, viện cớ là Hoàn Công rất giận và thù Quản Trọng bắn vào đai thắt lưng khi trước, nên nay muốn bắt cho được Quản Trọng đem về để trả thù. Nhờ đó Quản Trọng được tha về.
Bảo Thúc Nha lại tiến cử Quản Trọng với Hoàn Công được trọng dụng, lại quyết định nhường quyền Tướng quốc cho Quản Trọng và còn đề nghị Hoàn Công phải chọn ngày lành thân hành đến rước Quản Trọng. Hoàn Công nghe theo.
Về sau, nước Tề nhờ Quản Trọng mà được hùng cường.
Đến khi Quản Trọng mất, và các vị đại thần như Ninh Thích, Tân Tu Vô, Thấp Bằng cũng lần lượt mất hết, nước Tề không còn ai xứng đáng để giữ chức Tể Tướng, Hoàn Công yêu cầu Bảo Thúc Nha giữ chức ấy. Thúc Nha tâu cần phải loại bỏ những kẻ gian nịnh như Khai Phương, Dịch Nha, Thụ Điêu, thì mới chịu đảm nhận việc nước.
Hoàn Công nghe theo, nhưng ít lâu sau lại buồn và cho phục chức bọn Thụ Điêu, Dịch Nha, Khai Phương như cũ.
Bảo Thúc Nha buồn rầu, uất ức quá sanh bệnh mà mất.
Nước Tề từ đó suy vong, và bọn Thụ Điêu, Dịch Nha, Khai Phương lại có dịp lộng hành.
Người đời sau cứ đem ví cái tình bạn tri kỷ của Bảo Thúc Nha và Quản Trọng trên đời nầy chưa dễ mấy ai được như vậy, không khác gì tình bạn tri âm của Bá Nha Tử Kỳ, Bảo Thúc Nha đã quyết vì quyền lợi quốc gia, gát bỏ mọi tỵ hiềm ích kỷ, tiến cử Quản Trọng với Tề Hoàn Công, cho ta thấy rõ tấm lòng thiết tha yêu nước của một bậc hiền triết.
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,468
Posts: 13687
Joined: 22 Mar 2009
 
 

Re: Điển Tích

Postby bevanng » 16 Apr 2022


Mê Sách: Lang Ngọc Trụ


Liêu Trai

Thị Kính

Thư trung đành có ngọc nhan,
Sách đèn còn bận buông màn Quảng Xuyên.


Bích Câu Kỳ Ngộ

Đã người trong sách duyên,
Mấy thu hạt ngọc Lam điền mới giâm.


Lang Ngọc Trụ là một thư sinh ở Bành thành. Tiên thế có người làm quan Thái thú, tính rất thanh liêm, mà lương bổng chỉ đem mua sách xếp đầy nhà. Đến Ngọc Trụ, thì lại mê sách hơn nữa. Có khi túng thiếu phải bán hết đồ đạc để chi dùng, nhưng sách của bố để lại, vẫn giữ nguyên vẹn.
Lúc còn sống, thân phụ chàng có viết một bài khuyến học dán ở chỗ ngồi; Ngọc Trụ ngày thường ngâm đọc, rồi đem lụa phủ kín cho khỏi bụi khỏi rách. Chàng một lòng tin tưởng rằng: trong sách thực có vàng có thóc, cho nên ngày đêm chăm chỉ học hành. Ngoài 20 tuổi, chàng vẫn chưa lấy vợ, những mong rằng trong sách có mỹ nhân hiện ra. Bạn bè, thân thích đến thăm, thì chàng chỉ tiếp chuyện qua loa vài câu, rồi lại cặm cụi học, làm cho khách chán phải ra về. Nhiều lần chàng có đi thi, văn bài của chàng đều được quan trường thưởng thức, nhưng vì phạm trường qui cho nên chàng không đỗ được.
Một hôm, chàng đương dọc sách, một cơn gió to thổi bay sách đi; chàng vội chạy theo nhặt về, tình cờ thụt chân xuống một cái hố, đào lên xem thì có thóc chôn đã mục nát. Chàng lại càng tin cái thuyết “Trong sách có nghìn chung thóc”, và lại càng chăm học hơn.
Một hôm khác, chàng lên gác soạn sách, bắt được một đồ vật bằng vàng. Chàng mừng lắm, mà lại tin ở câu “Trong sách có nhà vàng”. Khi đem đồ vật ấy đi khoe, mới nhận ra là mạ vàng mà thôi, cho nên có ý giận người xưa. Nhân một ông quan hạt ấy, là bạn đồng niên của thân phụ chàng, tính rất mộ Phật, có người khuyên chàng dâng quan làm đồ thờ Phật. Quan rất mừng rỡ, bèn tặng chàng 300 lạng vàng và 2 con ngựa. Lúc ấy chàng lại cho rằng: câu “Nhà vàng, xe ngựa ở trong sách” cũng nghiệm, mà càng gắng sức học hành.
Năm chàng 30 tuổi, có kẻ khuyên chàng lấy vợ, chàng chỉ đáp rằng:
- “Trong sách sẵn có mỹ nhân”, lo gì chả có vợ.
Trải hai, ba năm nữa, chàng cũng không đổi chí, cho nên nhiều người hay chế nhạo chàng. Nhân lúc bấy giờ có tin phao đồn rằng “Chức Nữ trốn xuống trần”, họ mới riễu cợt rằng:
“Có lẽ sao Chức Nữ vì Ngọc Trụ mà trốn xuống hạ giới”. Chàng biết vậy, nhưng chẳng trả lời.
Một buổi đã khuya, chàng còn đương đọc bộ Hán thư, đến nửa quyển thứ tám, thì thoáng thấy một hình mỹ nhân nhỏ, nằm ép trong sách. Chàng giật mình mà nói.
- Có lẽ cô gái Nhan Như Ngọc ở trong sách là đây chăng?
Nhìn kỹ mặt mày, thấy như người thật, lại có hai chữ Chức Nữ ở sau lưng. Chàng lấy làm lạ lắm, ngày ngày đem để hình ấy trên quyển sách mà ngắm nghía đến nỗi quên ăn, quên ngủ. Sau chợt thấy tự nhiên mỹ nhân cử động rồi ngồi dậy mà mỉm cười. Chàng hoảng sợ, sụp lạy trước án, đến lúc ngẩng đầu lên, thì thấy mỹ nhân đã lớn bằng người thường, rõ ràng tuyệt thế giai nhân, lừ lừ bước xuống. Chàng kính cẩn hỏi rằng:
- Ngài là vị thần tiên nào giáng thế?
Nàng đáp:
- Thiếp họ Nhan, tên Như Ngọc, vốn biết chàng đã từ lâu, mà cũng đã được chàng để ý đến. Nếu thiếp không đến để gặp chàng, thì e rằng nghìn năm sau không ai tin lời nói của cổ nhân nữa.
Ngọc Trụ mừng lắm, bèn cùng Như Ngọc kết làm vợ chồng; tuy tình thương yêu rất đằm thắm, mà chàng không biết Như Ngọc là người gì. Khi đọc sách, chàng để vợ ngồi bên cạnh. Vợ thường khuyên đừng đọc sách nữa, nhưng chàng không nghe.
Được ít lâu, Như Ngọc bảo chàng rằng:
- Sở dĩ chàng không đỗ đạt được, là vì chàng chăm học quá. Chàng thử xem những người khoa bảng, có ai chăm học như thế đâu. Nếu chàng chẳng nghe lời thiếp, thì thiếp sẽ đi nơi khác.
Chàng nghe nói, nể lời mà gượng theo, nhưng chẳng được bao lâu lại miệt mài về sách.
Sau, tự nhiên thấy Như Ngọc biến mất. Chàng hoảng sợ, quỳ gối cầu khấn, cũng chẳng thấy đâu. Chợt nhớ đến nơi nàng hiện hình khi trước, liền dở quyển Hán thư số 8, đúng chỗ ấy, thì thấy Như Ngọc nằm ép đó, nhưng gọi chẳng thưa. Chàng phải quỳ xuống kêu van, nàng mới chịu bước ra mà nói rằng:
- Nếu lần này, chàng không nghe thiếp, thì thiếp quyết đi hẳn.
Như Ngọc thường bắt chàng phải đánh cờ, đảnh bài với mình, để quên sách vở, Chàng miễn cưỡng nghe theo, nhưng hễ nàng đi vắng, thì lại vớ sách đọc. Chàng lại dấu quyển Hán thư vào chồng sách khác, đề phòng khi Như Ngọc có bắt được chàng đọc sách cũng không trốn được.
Một hôm, chàng đang mải xem sách, Như Ngọc chợt đến mà chàng không biết, vừa thoảng trông thấy nàng, vội vàng gấp sách lại, nhưng nàng đã biến mất. Sau lại thấy trong quyển Hán thư số 8 ở đúng chỗ cũ. Chàng van lơn mãi, thề không đọc sách nữa; Như Ngọc mới chịu ra.
Nàng có hẹn với chàng nội trong ba ngày phải giỏi cờ, nếu không thì nàng sẽ đi mất; quả nhiên ngày thứ ba, có một ván cờ chàng hơn nàng được ba quân, nàng mừng rỡ quá. Nàng lại bắt phải học đàn, cứ 5 ngày phải thuộc một bài; chàng gắng sức luyện tập, sau 5 ngày đã có những tiếng tài tinh. Từ đỏ, ngày nào chàng cũng uống rượu, đánh bài với nàng mà sao nhãng sự xem sách. Nàng lại bắt phải đi giao thiệp bạn bè, thành ra chàng nổi tiếng là một người thạo. Như Ngọc mới nói rằng:
- Bây giờ chàng có thể đi cầu công danh được.
… Mãi sau, chàng mới biết đến tình chăn gối, rồi sinh được một con trai. Như Ngọc mượn * nuôi con, mà nói rằng:
- Thiếp lấy chàng đã được 2 năm, nay đã có con rồi, thiếp xin từ biệt. Nếu ở lâu, tất hại cho chàng, sau hối không kịp.
Chàng sùi sụt, lạy dưới chân nàng mà nói rằng:
- Xin nàng thương lấy đứa con thơ.
Nàng nghe nói cũng rầu rĩ, lâu mới nói ra lời:
- Nếu muốn cho thiếp ở lại, thì phải đốt hết sách đi.
- Đó là sinh quán của nàng và là sinh mạnh của tôi, sao lại như vậy.
Như Ngọc không ép, thở dài mà nói rằng:
- Thiếp vốn biết ở đời người ta đều có số mạnh, nên phải nói trước thế thôi.
Kể từ khi Ngọc Trụ và Như Ngọc kết làm vợ chồng, trong họ vẫn có kẻ nhìn trộm mà biết mặt nàng, cho nên thường hỏi chàng về sự đính hôn, và họ hàng nhà vợ. Chàng không biết nói thế nào, cho nên mọi người sinh nghi. Tiếng tăm đồn đại khắp nơi, sau đến tai quan Huyện là Sử Công, quê ở đất Mân, đỗ Tiến sĩ. Quan muốn biết mặt mỹ nhân, liền cho trát đòi cả hai vợ chồng Lang Ngọc Trụ. Như Ngọc biết chuyện biến hình trốn mất. Quan giận, đem chàng ra tra khảo.
Chàng bị đánh gần chết cũng không chịu xưng. Khi tra đứa ở gái, thì nó khai qua cuộc gặp gỡ của hai người. Quan cho là ma quỷ, liền thân đến khám nhà Ngọc Trụ, nhưng chỉ thấy đầy những sách vở, chẳng biết tìm đâu thấy Như Ngọc. Quan bèn sai đốt hết sách, khói bốc lên cao, kết lại thành một đám mây đen ở giữa sân mà không tan.
Sau Ngọc Trụ được tha về. Nhờ có một người học trò thân phụ chàng viết một bức thư biện bạch giúp cho, nên chàng được trắng án. Ngay năm ấy chàng thi đỗ cử nhân, đến năm sau đỗ luôn Tiến sĩ. Chàng vẫn căm hờn Sử Công đã đang tay đốt sách của chàng, cho nên lập bàn thờ để thờ Như Ngọc, mà sớm tối cầu khấn phù hộ cho chàng được bổ làm quan đất Mân. Cách đỏ ít lâu, quả nhiên chàng được đi thanh tra đất ấy; trong ba tháng khám xét, chàng đã tìm ra dược nhiều sự ác nghiệt của Sử Công, khiến Sử Còng bị tịch thu gia sản.
Sau, theo lời khuyên bảo của người trong họ, chàng phải lấy một người tỳ, lại chính là thiếp yêu lúc trước của Sử Công.
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,468
Posts: 13687
Joined: 22 Mar 2009
 
 

Re: Điển Tích

Postby bevanng » 16 Apr 2022

Dương Quý Phi - Lời thề Thất tịch

Tùy Đường

Cung Oán Ngâm Khúc

Chữ đồng lấy đấy mà ghi,
Mượn lời Thất tịch mà thề bách niên.


Thị Kính


Có đêm thề thốt dưới trăng,
Một rằng thế thế, hai rằng sinh sinh.


Dương Quý Phi, tên là Ngọc Hoàn, người Hoa âm, cha làm Thục châu Tư hộ. Nàng sinh ở đất Thục, bố mẹ mất sớm, ở với chú là Lập Khuê. Đến khi lớn, nhan sắc khác thường, thật là khuynh thành khuynh quốc, tuyệt thế không hai.
Đời Đường, năm Khai nguyên thứ 22 (Dương lịch: 734), triều Minh Hoàng tức Huyền Tôn, nàng được tuyên làm Thọ Vương Phi.
Chợt Vũ Huệ Phi mất, vua Huyền Tôn thương nhớ lắm, mà từ đấy trong cung không có người vừa ý vua. Đến năm Khai nguyên thứ 28 vua nghe nói Quý Phi có nhan sắc, mới sai Cao Lực Sĩ đón rước vào cung.
Năm Thiên bảo thứ 4, nàng được phong làm Nữ đạo sĩ, hiệu là Thái Chân, sau mới phong là Quý phi. Vua yêu dấu lắm, thường nói rằng;
- Ta được Quý Phi như được ngọc quý vậy. Thật là:

Trong cung giai lệ ba nghìn,
Thương yêu nào có ai chen được mình.


Năm Thiên bảo thứ 10, giữa đêm mồng bảy tháng bảy, vua cùng Dương Quý Phi ngồi nghỉ mát tại điện Trường sinh, có các cung nga theo hầu. Mãi đến canh hai mới trở vào cung, và cho các cung nga được đâu về đấy.
Đêm hôm ấy trời nóng nực quá, Dương Quý Phi không ngủ được, lại cùng vua ra điện Trường sinh hóng mát. Canh khuya vắng vẻ, chung quanh không có một ai, hai người đều ngửa mặt xem sao. Vua khẽ nói với Quý Phi rằng:
- Đêm hôm nay sao Ngưu lang và Chức nữ được hội họp với nhau, chắc rằng vui lắm. Người ta nói ô thước bắc cầu, không biết có thật không. Nếu quả như một năm mới được gặp một lần, thì hợp ít ly nhiều, không bằng dương gian chúng ta, tôi cùng nàng đêm ngày liền nhau không lúc nào xa cách.
Dương Quý Phi nghe nói tâu rằng:
- Chúng ta tụ họp chỉ có chừng thôi, không như hai sao trên trời cùng nhau mãi mãi.
Nói xong có ý buồn rầu. Vua cũng cảm động bèn nói:
- Hai ta ái ân tình nặng, nỡ nào lìa nhau. Chúng ta nên thề rằng:

Kiếp ấy kiếp khác nguyện làm vợ chồng.
Thế thế sinh sinh nguyện vi phu phụ.


Hai người thề xong lấy làm vui vẻ.
Sau ông Bạch Cư Dị có làm mấy câu trong bài Trường hận ca để nói về chuyện ấy.
Dương Quý Phi được vua yêu dấu như thế mà vẫn tư thông với An Lộc Sơn. Sau An Lộc Sơn khởi binh làm loạn, đánh đâu được đấy, dần dần tiến về đánh gần đến kinh thành để chiếm lấy Quý Phi. Triều đình rối loạn, nhân dân nao núng, kinh thành không đủ quân, chống giữ. Vua phải chạy trốn về Ba thục. Lúc đi chỉ đem Dương Quý Phi, anh nàng là Thừa tưởng Dương Quốc Trung, và hai chị nàng là Hàn Quốc phu nhân, Quắc Quốc phu nhân, cùng các tướng dẫn quân đi hộ giá.
Đi khỏi Trường an được vài trăm dặm, đến dãy núi Nga my và Mã ngôi, các tướng bàn nhỏ với nhau rằng:
- Giặc này là chỉ do họ Dương gây nên. Bây giờ có giết bọn ấy đi để tạ tam quân, thì vua đi mới yên được.
Thế là chư tướng vào giết luôn Dương Quốc Trung và hai phu nhân, rồi loan báo cho chư quân biết.
Lúc bấy giờ quân đã biến, đóng lại nhất định không đi, và bảo với nhau rằng:
- Quý Phi còn ở bên cạnh vua, nếu không giết đi thì không được.
Thấy vậy, Cao Lực Sĩ phải vào tâu vua rõ. Vua nghe nói rụng rời chân tay, phải thân ra đứng trước tam quân mà nói rằng:
- Tội tại Dương Quốc Trung, nay đã giết rồi, còn như Phi tử ở chốn thâm cung, có biết gì đến việc ngoài, nếu giết đi thực tội nghiệp.
Quân sĩ đều hô vạn tuế, nhưng cứ đứng im như trước.
Cao Lực Sĩ phải khẽ tâu với vua rằng:
- Tam quân có yên thì vua mới yên được. Bây giờ lòng quân đã thế, xin Bệ hạ chiều lòng quân, cắt đứt mối tình. Bằng không, giặc đuổi đến đây, thì không lấy gì địch được.
Vua chỉ đứng nguyên mà khóc. Vì Cao Lực Sĩ tâu mãi, Vua mới vào khóc với Dương Quý Phi rằng:
- Tôi cùng nàng bây giờ vĩnh biệt, bao giờ lại được thấy nhau?
Dương Quý Phi đã biết trước, không đợi vua nỏi rõ, ngồi ngay xuống lạy mà tâu rằng:
- Thần thiếp đã tự biết có tội với Quốc gia, nay chết cũng không dám ân hận. Xin bệ hạ đừng quá nghĩ vì thiếp, mà chăm lấy long thể, để khôi phục kinh thành, thì thiếp cũng được hả lòng nơi chín suối.
Vua cứ giữ lấy Quý Phi không cho đi. Lực Sĩ phải thúc giục lắm, vua mới bỏ ra, Quý Phi lại bảo:
- Xem có cái chùa nào đưa ta đến.
Lực Sĩ thưa:
- Nương nương cứ đi, kẻ hạ thần xin chu tất.
Nói xong bèn đưa đến một cái chùa, đợi Quý Phi lễ rồi, mới sai quân thắt cổ chết ngay giữa cửa Phật.
Bấy giờ Quý Phi đã ngoài 30 tuổi.
bevanng
Quả Mít
Quả Mít
 
Tiền: $37,468
Posts: 13687
Joined: 22 Mar 2009
 
 

Next

Return to Hoa Thơm Cỏ Lạ



Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest